Vốn Huy động và vốn điều lệ của Doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh, việc hiểu rõ bản chất của các nguồn vốn là yếu tố then chốt để quản trị tài chính hiệu quả. Dưới đây là các khái niệm cơ bản liên quan đến vốn huy động và vốn điều lệ theo quy định pháp luật hiện hành.
Vốn huy động được hiểu là các giá trị tiền tệ mà tổ chức, cá nhân (đặc biệt là các tổ chức tín dụng) thu nhận được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua các nghiệp vụ như: thực hiện các giao dịch tín dụng, thanh toán, hoặc các hoạt động kinh doanh khác. Đối với ngân hàng thương mại, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn và đóng vai trò quyết định đến khả năng vận hành các hoạt động kinh doanh.
Xét dưới góc độ pháp nhân thương mại, huy động vốn là quá trình tạo lập nguồn lực tài chính để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua nhiều hình thức như: vay vốn, phát hành và chào bán chứng khoán, liên kết hoặc liên doanh với các đối tác trong và ngoài nước, hay hình thành các quỹ tín thác.
Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản mà các thành viên công ty hoặc chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh. Đối với công ty cổ phần, vốn điều lệ là tổng mệnh giá số cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua tại thời điểm thành lập.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, tài sản góp vốn vào doanh nghiệp rất đa dạng, bao gồm: đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các tài sản khác có thể định giá được bằng đồng Việt Nam. Việc xác định đúng vốn điều lệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các loại hình khác là căn cứ để xác định trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu.
Dựa trên nguồn gốc hình thành, nguồn vốn của một thực thể kinh tế thường được chia thành hai loại chính:
Để mở rộng quy mô kinh doanh, doanh nghiệp có thể thực hiện việc thay đổi cấu trúc vốn thông qua các hình thức sau:
Căn cứ theo Luật Doanh nghiệp 2020, việc góp vốn bao gồm cả hoạt động góp vốn khi thành lập công ty và góp thêm vốn điều lệ khi công ty đã hoạt động. Trong trường hợp tăng vốn góp của thành viên, phần vốn góp thêm sẽ được phân chia cho các thành viên hiện hữu theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn họ đang nắm giữ trong vốn điều lệ. Nếu có thành viên không thực hiện góp thêm hoặc chỉ góp một phần, số vốn còn lại sẽ được chia cho các thành viên khác theo tỷ lệ sở hữu hiện tại, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các thành viên.
Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (doanh nghiệp có số lượng thành viên từ 02 đến 50), việc tiếp nhận thêm thành viên mới là hoàn toàn khả thi nếu số lượng thành viên hiện tại chưa chạm ngưỡng tối đa. Khi thực hiện thay đổi này, doanh nghiệp cần lưu ý thủ tục tăng vốn điều lệ công ty TNHH như thế nào để đảm bảo tính hợp pháp.
CĂN CỨ PHÁP LUẬT: Theo Điều 1 của Nghị định số 01/2021/NĐ-CP Về đăng ký doanh nghiệp, khi có sự thay đổi dẫn đến tăng vốn điều lệ do tiếp nhận thành viên mới, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đặt trụ sở chính theo đúng trình tự, hồ sơ quy định.
Mặc dù công ty trách nhiệm hữu hạn không được phép phát hành cổ phần, nhưng pháp luật vẫn cho phép loại hình này thực hiện huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu. Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ nợ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu (nhà đầu tư) về một khoản tiền cụ thể tại một thời điểm nhất định kèm theo lãi suất quy định.
Doanh nghiệp có quyền lựa chọn phương thức chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần để linh hoạt hơn trong việc huy động vốn. Các phương thức chuyển đổi bao gồm:
Khi đã trở thành công ty cổ phần, doanh nghiệp có thể thực hiện một số điều cần biết về vốn điều lệ công ty cổ phần, đặc biệt là quyền chào bán cổ phần để tăng vốn điều lệ một cách linh hoạt hơn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu này chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ đã đăng ký. Tùy vào nhu cầu, chủ sở sở hữu có thể thực hiện việc tăng vốn thông qua việc tự đầu tư thêm hoặc tìm kiếm các nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng, ngân hàng để phục vụ mục đích phát triển kinh doanh.