Tóm tắt nội dung bản án, nhận định của Tòa án, luận cứ vụ án của bản án số 03/2021/KDTM-ST tranh chấp về hợp đồng đại lý

Trong hoạt động thương mại, hợp đồng đại lý là loại hình hợp đồng phổ biến nhằm thiết lập mối quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý. Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau khi bán hàng thường phát sinh các mâu thuẫn về số liệu công nợ và lãi suất chậm trả. Bài viết dưới đây phân tích chi tiết bản án về tranh chấp hợp đồng phân phối (dạng đại lý) để làm rõ trách nhiệm của các bên khi xảy ra tình trạng nợ đọng.
Vào ngày 08/02/2010, Chi nhánh Tổng Công ty G tại Hà Nội và Công ty Cổ phần T đã ký kết hợp đồng đại lý nhằm thực hiện các công việc được ủy quyền. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, Công ty T có trách nhiệm thanh toán tiền bán hàng đại lý cho Chi nhánh Tổng Công ty G tại Hà Nội thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng ngay sau khi hoàn tất việc bán hàng.
Về quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán, các bên ghi nhận Công ty T đã thực hiện chuyển khoản hai đợt vào ngày 2 trưởng/5/2011 và ngày 12/11/2012 với tổng số tiền là 177.000.000 đồng cho Tổng Công ty G. Tuy nhiên, sau các đợt thanh toán này, mặc dù phía bên giao đại lý đã nhiều lần đôn đốc, Công ty T vẫn chưa hoàn tất việc thanh toán phần dư nợ còn lại.
Trước tình trạng vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Tổng Công ty G đã khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Công ty T phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
Để làm rõ các yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã xem xét các chứng cứ khách quan từ phía ngân hàng và hồ sơ đối chiếu công nợ giữa hai bên. Cụ thuộc vào thông tin cung cấp bởi Ngân hàng TMCPCT Việt Nam - Chi nhánh Ba Đình, ngoài khoản tiền 177.000.000 đồng đã được xác nhận, phía ngân hàng không ghi nhận thêm bất kỳ giao dịch thanh toán nào khác từ Công ty T vào tài khoản của Chi nhánh Tổng Công ty G tại Hà Nội.
Đồng thời, hồ sơ vụ án có kèm theo Bảng đối chiếu công nợ, văn bản này đã có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu hợp lệ của Công ty T. Do đó, việc xác định số nợ gốc là 296.881.547 đồng mà Tổng Công ty G yêu cầu là hoàn toàn có căn cứ pháp lý và phù hợp với thực tế giao dịch giữa các bên.
Đối với yêu cầu về tiền lãi chậm trả từ ngày 01/01/2012 đến ngày xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định rằng việc áp dụng mức lãi suất 09%/năm là phù hợp với quy định pháp luật. Mức lãi suất này được đánh giá là thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng thương mại tại khu vực địa phương, do đó không gây thiệt hại bất hợp lý cho bên vi phạm (Công ty T) và cần được chấp nhận để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm.
Trong trường hợp phát sinh các vấn đề tương tự về nghĩa vụ thanh toán trong các giao dịch khác, các bên có thể tham khảo thêm bản án giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản để hiểu rõ hơn về cách xác định lãi suất quá hạn.
Để giải quyết tranh chấp này, Tòa án đã căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm xét xử nhằm xác định nghĩa vụ thanh toán và mức lãi suất phát sinh từ việc chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính:
Việc xác định chính xác số nợ gốc dựa trên chứng từ ngân hàng và áp dụng mức lãi suất phù hợp với quy định của Luật Thương mại là yếu tố then chốt để đảm bảo tính công bằng trong các bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và các loại hợp đồng thương mại khác.