Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trong quá trình thực hiện, nếu các nội dung thỏa thuận không tuân thủ đúng quy định pháp luật, hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu. Việc hiểu rõ các trường hợp và cách thức xử lý hợp đồng lao động vô hiệu là cực kỳ quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
Căn cứ pháp lý
Nội dung dưới đây được tổng hợp dựa trên các quy định pháp luật tại thời điểm năm 2022, bao gồm:
- Điều 49, 50 và 51 Bộ luật Lao động 2019;
- Điều 33, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điều 9, 10 và 11 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao lệ và quan hệ lao động.
Các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu
Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động có thể bị tuyên bố vô hiệu theo hai hình thức: vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ.
Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ
Hợp đồng lao động được coi là vô hiệu toàn bộ trong các trường hợp sau:
- Vi phạm pháp luật về nội dung: Toàn bộ nội dung của hợp đồng vi phạm quy định pháp luật, ví dụ như thỏa thuận mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hoặc thỏa thuận không thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.
- Vi phạm về thẩm quyền và nguyên tắc giao kết: Người ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực. Ví dụ, việc đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không đúng chủ thể có thẩm quyền sẽ dẫn đến vô hiệu.
- Công việc bị pháp luật cấm: Nội dung hợp đồng giao kết các công việc mà pháp luật nghiêm cấm thực hiện như buôn bán ma túy, mại dâm...
Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần
Trường hợp một hoặc một số điều khoản trong hợp đồng vi phạm pháp luật nhưng những nội dung còn lại không bị ảnh hưởng bởi sự vi phạm đó thì chỉ phần nội dung vi phạm bị tuyên bố vô hiệu.
Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Cụ thể, Tòa án nơi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Cách thức xử lý hợp đồng lao động vô hiệu
Xử lý đối với hợp đồng lao động vô hiệu từng phần
Khi một phần hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, các bên cần thực hiện theo quy trình sau:
- Sửa đổi, bổ sung: Người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi nội dung vi phạm sao cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và quy định pháp luật.
- Giải quyết quyền lợi trong thời gian chờ sửa đổi: Quyền và nghĩa vụ của các bên từ khi bắt đầu làm việc đến khi hoàn tất việc sửa đổi sẽ được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể hoặc theo quy định pháp luật nếu không có thỏa ước. Đặc biệt, nếu tiền lương thấp hơn quy định, hai bên phải thỏa thuận lại mức lương đúng và người sử dụng lao động phải hoàn trả phần chênh lệch cho người lao động.
- Trường hợp không thống nhất được việc sửa đổi: Nếu các bên không thể đạt được thỏa thuận để sửa đổi nội dung vô hiệu, hợp đồng sẽ bị chấm dứt. Khi đó, quyền lợi của người lao động về trợ cấp thôi việc sẽ được giải quyết theo Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP và thời gian làm việc thực tế vẫn được tính để làm căn cứ hưởng các chế độ khác.
Xử lý đối với hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ
Việc xử lý phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô hiệu toàn bộ:
Trường hợp do vi phạm thẩm quyền hoặc nguyên tắc giao kết
Căn cứ Điều 10 và 11 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý được thực hiện như sau:
- Ký lại hợp đồng: Các bên tiến hành ký lại hợp đồng lao động mới đúng thẩm quyền và đúng quy định pháp luật.
- Quyền lợi trong giai đoạn chưa ký lại: Nếu nội dung hợp đồng cũ không thấp hơn mức pháp luật quy định, các quyền lợi vẫn được thực hiện theo nội dung hợp đồng vô hiệu đó. Thời gian làm việc thực tế vẫn được ghi nhận để tính các chế độ bảo hiểm và phúc lợi khác.
- Trường hợp không ký lại: Nếu hai bên không thể ký lại hợp đồng mới, quan hệ lao động sẽ chấm dứt. Người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Trường hợp do nội dung vi phạm pháp luật hoặc công việc bị cấm
Đối với trường hợp toàn bộ nội dung hợp đồng vi phạm pháp luật hoặc giao kết công việc bị cấm:
- Giao kết mới: Người lao động và người sử dụng lao động phải thực hiện giao kết một hợp đồng lao động mới hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
- Xử lý khi không thể giao kết mới: Nếu các bên không thể ký kết hợp đồng mới, quan hệ lao động chấm dứt. Người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền thỏa thuận, nhưng không thấp hơn mức 01 tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi năm làm việc thực tế (tính theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP).
Việc xử lý các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng lao động vô hiệu còn tùy thuộc vào sự phán quyết của Tòa án dựa trên các tình tiết cụ thể của từng vụ việc.
Xem thêm các chủ đề khác