Trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phát triển, nhu cầu về vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại Việt Nam cũng như tại từng địa phương là rất lớn. Trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế và nguồn viện trợ quốc tế có xu hướng thu hẹp, việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn trở nên cấp thiết. Một trong những giải pháp hiệu quyết là mô hình đầu tư hình thức PPP (Hợp tác công tư), giúp tận dụng nguồn lực từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước để phát triển hạ tầng quốc gia.
Khái niệm về đầu tư kinh doanh
Theo quy định pháp luật tại thời điểm năm 2020, đầu tư kinh doanh được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Các phương thức thực hiện bao gồm: thành lập tổ chức kinh tế; góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp vào tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Mọi hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Luật Đầu tư 2014 và các văn bản pháp luật liên quan.
Các hình thức đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức nhà đầu tư trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của dự án. Các loại hình phổ biến bao gồm:
- Thành lập tổ chế kinh tế: Nhà đầu tư có thể thành lập mới doanh nghiệp với 100% vốn trong nước, 100% vốn nước ngoài hoặc dưới hình thức liên doanh. Quá trình này thường đi kèm với quy trình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế cụ thể.
- Đầu tư theo hợp đồng: Bao gồm các loại hình như hợp đồng BCC (Hợp đồng hợp tác kinh doanh), BOT (Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao), BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh) và BT (Xây dựng - Chuyển giao).
- Đầu tư phát triển kinh doanh: Thực hiện mở rộng quy mô công suất hoặc đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất sẵn có.
- M&A (Mua lại và Sáp nhập): Đầu tư thông qua việc mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản lý hoặc thực hiện sáp nhập, mua lại toàn bộ doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức kinh tế
Sau khi hoàn tất đầu tư thành lập tổ chức kinh tế ở Việt Nam, doanh nghiệp có thể tồn tại dưới các loại hình pháp lý như: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh hoặc Tập đoàn kinh tế.
Thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư
Tùy vào lĩnh vực và quy mô, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư được phân cấp như sau:
- Cấp bởi Thủ tướng Chính phủ: Áp dụng cho các dự án đặc thù trong các lĩnh vực: Cảng hàng không, cảng biển quốc gia, thăm dò/khai thác dầu khí và khoáng sản; kinh doanh casino; sản xuất thuốc lá; thành lập cơ sở đào tạo đại học; hoặc phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
- Cấp bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Áp dụng cho các dự án nằm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế (bao gồm cả các dự án đã được Thủ tướng chấp thuận chủ trương).
- Cấp bởi Ban Quản lý các Khu công nghiệp/Khu kinh tế: Đối với các dự án đầu tư trực tiếp vào trong phạm vi các khu này.
Các hình thức đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là việc nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp mà thông qua các công cụ tài chính để hưởng lợi nhuận. Các hình thức phổ biến bao gồm:
- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường chứng khoán.
- Đầu tư thông qua các Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc các định chế tài chính trung gian khác.
Quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
Mặc dù pháp luật cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần không hạn chế tại nhiều doanh nghiệp, nhưng vẫn tồn tại các giới hạn về tỷ lệ sở hữu nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và tuân thủ các cam kết quốc tế:
- Tại các công ty niêm yết: Tỷ lệ sở hữu tối đa của nhà đầu tư nước ngoài thường không vượt quá 49% tổng số cổ phiếu niêm yết.
- Lĩnh vực ngân hàng: Theo cam kết WTO, tổng tỷ lệ sở hữu của các pháp nhân và thể nhân nước ngoài tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ.
- Lĩnh vực viễn thông: Đối với dịch vụ viễn thông cơ bản có hạ tầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép tham gia dưới hình thức liên doanh với tỷ lệ góp vốn tối đa là 49%.
- Các trường hợp đặc thù khác: Tỷ lệ sở hữu còn phụ thuộc vào quy định của Luật Đầu tư, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật chuyên ngành (như quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước).
Việc nắm vững các hình thức đầu tư và quy định về tỷ lệ sở hữu là yếu tố then chốt để nhà đầu tư xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường Việt Nam một cách bền vững và đúng pháp luật.