Người nước ngoài kinh doanh bất động sản tại Việt Nam hiện nay càng nhiều. Vậy pháp luật điều chỉnh vấn đề này

Thực trạng cá nhân và tổ chức nước ngoài tham gia vào hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Để đảm bảo tính tuân thủ pháp luật, các nhà đầu tư cần nắm vững các quy định về điều kiện đối với tài sản đưa vào kinh doanh, điều kiện của chủ thể kinh doanh cũng như phạm vi quyền hạn được phép thực hiện.
Theo quy định tại Điều 9 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, các loại tài sản khi đưa vào hoạt động kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn pháp lý sau:
Các loại đất được phép kinh doanh quyền sử dụng đất phải thỏa mãn các điều kiện:
Về chủ thể kinh doanh, căn cứ Điều 10 Luật Kinh doanh bất động năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Đầu tư 2020), các quy định về hình thức tổ chức được xác định như sau:
Đối với các nhà đầu tư muốn tìm hiểu sâu hơn về việc thiết lập bộ máy vận hành, có thể tham khảo thêm về điều kiện mở công ty kinh doanh bất động sản để chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ pháp lý cần thiết.
Pháp luật Việt Nam phân định rõ phạm vi kinh doanh giữa các nhóm đối tượng khác nhau, cụ thể tại Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản 2014:
Nhóm đối tượng này được thực hiện kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau:
Về phạm vi hoạt động của doanh nghiệp có vốn nước ngoài kinh doanh bất động sản, các hình thức bao gồm:
Để hiểu rõ hơn về quyền hạn của các chủ thể này, nhà đầu tư nên nghiên cứu kỹ doanh nghiệp nước ngoài có được kinh doanh bất động sản không? nhằm xác định đúng vai trò và phạm vi hoạt động của mình tại thị trường Việt Nam.
Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh bất động sản có thu nhập phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định:
Về việc nhận quyền sử dụng đất, căn cứ Điều 5 Luật Đất đai 2013, người nước ngoài không được phép nhận quyền sử dụng đất mà chỉ được sử dụng đất dưới hình thức thuê đất (trả tiền hàng năm hoặc trả một lần) để thực hiện các dự án đầu tư như: xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê.
Về việc sở hữu nhà ở, căn cứ Khoản 2 Điều 65 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và các quy định liên quan, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu nhà khi đáp ứng:
Thời hạn sở hữu nhà ở đối với cá nhân nước ngoài tối đa là 50 năm (có thể gia hạn theo quy định). Khi hết thời hạn này, chủ sở hữu phải thực hiện việc bán hoặc tặng cho nhà ở theo quy định của pháp luật.