Những quy định pháp luật về dịch vụ môi trường rừng
Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái và hỗ trợ phát triển bền vững. Việc hiểu rõ các quy định về đối tượng, hình thức chi trả cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Dưới đây là tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành (tại thời điểm năm 2022) về dịch vụ môi trường rừng.
Phân loại dịch vụ môi trường rừng
Căn cứ theo Điều 61 Luật Lâm nghiệp năm 2017, các loại hình DVMTR được quy định cụ thể bao gồm:
- Bảo vệ đất; hạn chế tình trạng xói mòn và bồi lắng tại lòng hồ, lòng sông, lòng suối.
- Điều tiết và duy trì nguồn nước phục vụ cho sản xuất cũng như đời sống xã hội.
- Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; thúc đẩy quản lý rừng bền vững và tăng trưởng xanh.
- Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng phục vụ cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.
- Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh dụng rừng để phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng
Theo quy định tại Điều 62 Luật Lâm nghiệp năm 2017, việc thực hiện chi trả DVMTR phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Rừng được chi trả DVMTR khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí theo quy định tại khoản 3 Điều 2 và cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ môi trường rừng quy định tại Điều 61 của Luật này.
- Bên sử dụng DVMTR có trách nhiệm chi trả tiền DVMTR cho bên cung ứng DVMTR.
- Việc chi trả phải được thực hiện bằng tiền thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Chi phí chi trả DVMTR được tính là một yếu tố cấu thành trong giá thành sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ của bên sử dụng.
- Quá trình chi trả phải đảm bảo tính công khai, dân chủ, khách quan, công bằng và phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Đối tượng, hình thức và quản lý sử dụng tiền DVMTR
Đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng
Căn cứ Điều 63 Luật Lâm nghiệp năm 2017, các đối tượng thuộc diện được nhận tiền DVMTR bao gồm:
- Chủ rừng theo quy định tại Điều 8 của Luật Lâm nghiệp năm 2017.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư có hợp đồng nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng là tổ chức do Nhà nước thành lập.
- Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định pháp luật.
Đối tượng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng
Các đơn vị, tổ chức có hoạt động khai thác giá trị từ rừng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả, cụ thể:
- Cơ sở sản xuất thủy điện: Chi trả cho các dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, bâng lắng lòng hồ/sông/suối và duy trì nguồn nước.
- Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch: Chi trả cho dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước.
- Cơ sở sản xuất công nghiệp: Chi trả cho dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước phục vụ sản xuất.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí: Chi trả cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên. Đây là một phần trong hoạt động bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
- Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn: Chi trả cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
- Cơ sở nuôi trồng thủy sản: Chi trả cho việc cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự phục vụ hệ sinh thái rừng.
- Các đối tượng khác theo quy định pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hình thức chi trả và quản lý sử dụng tiền DVMTR
Hình thức chi trả bao gồm: Bên sử dụng trả trực tiếp cho bên cung ứng hoặc trả thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (chi trả gián tiếp). Nhà nước khuyến khích việc tự thỏa thuận và chi trả trực tiếp nếu đảm bảo mức giá do Chính phủ quy định.
Công tác quản lý sử dụng tiền DVMTR phải thực hiện chặt chẽ từ khâu xác định tổng số tiền thu được, mức chi trả, đối tượng thụ hưởng, lập kế hoạch thu - chi cho đến việc kiểm tra, giám sát để tránh các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong dịch vụ môi trường rừng
Đối với bên sử dụng dịch vụ
Theo Điều 64 Luật Lâm nghiệp năm 2017, bên sử dụng DVMTR có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Quyền: Được thông báo về tình hình bảo vệ rừng, diện tích và chất lượng rừng tại khu vực cung ứng; được thông báo kết quả chi trả ủy thác; tham gia giám sát, nghiệm thu kết quả bảo vệ rừng; đề nghị điều chỉnh mức chi trả nếu bên cung ứng không đảm bảo đúng diện tích hoặc làm suy giảm chất lượng rừng.
- Nghĩa vụ: Ký kết hợp đồng; kê khai đầy đủ số tiền phải chi trả và thực hiện thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho chủ rừng hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng theo thỏa thuận.
Đối với bên cung ứng dịch vụ
Theo Điều 65 Luật Lâm nghiệp năm 2017, bên cung ứng DVMTR có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Quyền: Yêu cầu chi trả tiền sử dụng DVMTR theo đúng quy định; được cung cấp thông tin về giá trị dịch vụ rừng; tham gia xây dựng kế hoạch và kiểm tra quá trình thực hiện chi trả.
- Nghĩa vụ: Phải bảo đảm diện tích cung ứng DVMTR được bảo vệ, phát triển theo đúng quy hoạch và kế hoạch quản lý đã được phê duyệt; các tổ chức nhận khoán phải đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng khoán với chủ rừng; các tổ chức do Nhà nước thành lập phải quản lý, sử dụng tiền chi trả đúng mục đích pháp luật.