Theo Bộ luật lao động năm 2012, người lao động (NLĐ) được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương trong các trường hợp nêu sau:
Pháp luật lao động quy định rõ những trường hợp người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương mà không bị trừ thu nhập. Theo Bộ luật Lao động năm 2012 (văn bản có hiệu lực tại thời điểm năm 2019), các ngày nghỉ này gồm nghỉ lễ, tết và nghỉ việc riêng trong một số trường hợp nhất định. Việc nắm rõ quy định giúp người lao động bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Theo Điều 115 Bộ luật Lao động 2012, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương trong các ngày lễ, tết sau:
Nếu những ngày nghỉ này trùng vào ngày nghỉ hằng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp. Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.
Theo khoản 1 Điều 116 Bộ luật Lao động 2012, người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong các trường hợp:
Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.
Bên cạnh nghỉ lễ, tết và nghỉ việc riêng, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động còn được nghỉ hằng năm và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Số ngày nghỉ hằng năm phụ thuộc vào điều kiện làm việc và thời gian làm việc thực tế.
Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương là tiền lương theo hợp đồng lao động, được xác định theo quy định pháp luật về tiền lương tại thời điểm áp dụng. Đây là khoản người lao động được hưởng đầy đủ dù không trực tiếp làm việc trong những ngày này.