Tham khảo bài viết Tiền thai sản được xác định là tài sản chung hay riêng của vợ chồng? dưới đây của Legalzone để biết thêm thông tin
Việc xác định tài sản riêng và tài sản chung luôn là vấn đề pháp lý phức tạp, thường phát sinh tranh chấp khi các bên thực hiện thủ tục ly hôn. Một trong những câu hỏi phổ biến là tiền thai sản được hưởng từ chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) là tài sản riêng của vợ hay là tài sản chung của vợ chồng? Bài viết dưới đây sẽ phân tích dựa trên các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm năm 2020.
Để xác định bản chất pháp lý của tiền thai sản, cần căn cứ vào quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định pháp luật; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và các tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của mỗi bên.
Ngoài ra, tại Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định về tài sản khác thuộc sở hữu riêng bao gồm: Quyền tài sản đối với đối tượng sở tương trí tuệ; tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; các khoản trợ cấp, ưu đãi theo quy định pháp luật về người có công và các quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
Tiền thai sản là chế độ trợ cấp dành riêng cho lao động nữ khi sinh con hoặc lao động nam trong trường hợp vợ sinh con, với điều kiện đã đóng BHXH bắt buộc theo quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Về bản chất, đây là khoản tiền gắn liền với nhân thân của người lao động (người mẹ hoặc người chồng có vợ sinh con) và không thể chuyển giao cho người khác.
Do đó, về mặt pháp lý, tiền thai sản được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng (người trực tiếp thụ hưởng chế độ). Tuy nhiên, trong thực tế đời sống, các khoản tiền này thường được dùng để chi trả cho nhu cầu thiết yếu của con chung như mua sữa, bỉm, chăm sóc sức khỏe sau sinh, nên việc tranh chấp tài sản này thường không phổ biến trừ khi có những tình tiết đặc biệt về bản án về ly hôn, con chung khi ly hôn.
Việc xác định số tiền được hưởng phụ thuộc vào đối tượng thụ hưởng và mức lương cơ sở tại thời điểm chi trả. Lưu ý rằng, theo Nghị định số 38/2019/NĐ-CP, mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 01/7/2019 là 1.490.000 đồng/tháng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 34 Luật BHXH 2014, người chồng được nghỉ việc để chăm sóc vợ sinh con với thời gian cụ thể: 05 ngày nếu sinh thường; 07 ngày nếu sinh mổ dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày nếu sinh đôi (thêm 03 ngày cho mỗi con tiếp theo nếu sinh ba trở lên); hoặc 14 ngày nếu sinh đôi và phải sinh mổ.
Các khoản tiền chồng được hưởng bao gồm:
Lao động nữ khi nghỉ sinh con sẽ được hưởng các khoản sau: