Thủ tục đăng ký kết hôn tại nơi tạm trú: UBND xã, phường nơi công dân thường trú hoặc tạm trú có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn
Khi hai bên nam, nữ đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật và đã hoàn thành thủ tục đăng ký tạm trú tại cơ quan Công an cấp xã/phường, việc thực hiện đăng ký kết hôn tại nơi tạm trú cần tuân thủ các quy định cụ thể về thẩm quyền và trình tự thực hiện. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết dựa trên khung pháp lý hiện hành để giúp người dân nắm rõ quy trình.
Để xác định cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết, cần xem xét sự giao thoa giữa quy định về hộ tịch và quy định về cư trú.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch, thẩm quyền thực hiện việc đăng ký kết hôn được xác định như sau: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ là cơ quan có trách nhiệm thực hiện đăng ký kết hôn.
Theo Khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú 2006 (sửa đổi, bổ sung 2013), nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Trong đó:
Từ các căn cứ trên, có thể xác định thẩm quyền đăng ký kết hôn tại nơi tạm trú thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi công dân đang đăng ký tạm trú hợp pháp. Do đó, nếu hai bên nam, nữ đã hoàn tất thủ tục khai báo tạm trú tại địa phương, họ có quyền lựa chọn thực hiện thủ tục tại UBND xã/phường nơi tạm trú thay vì phải quay về quê quán.
Việc thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật cần tuân thủ nghiêm ngặt các bước về mặt hồ sơ và sự có mặt của các bên.
Căn cứ Điều 18 Luật Hộ tịch, hai bên nam và nữ phải trực tiếp nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Tại thời điểm này, cả hai bên nam và nữ đều phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký.
Về các loại giấy tờ cần thiết, theo Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, người yêu cầu đăng ký kết hôn phải xuất trình bản chính một trong các giấy tờ tùy thân như: Hộ chiếu, Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân còn giá trị sử dụng để chứng minh nhân thân. Đồng thời, người đăng ký phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định.
Căn cứ Điều 3 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của các giấy tờ và đối chiếu thông tin trong tờ khai. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa đúng quy định, người tiếp nhận phải hướng dẫn người yêu cầu bổ sung, hoàn thiện.
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ và kiểm tra thấy hai bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch sẽ tiến hành ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch. Sau đó, cả hai bên nam và nữ cùng ký tên vào Sổ hộ tịch và Giấy chứng nhận kết hôn. Công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.
Trong trường hợp cơ quan đăng ký cần phải xác minh kỹ hơn về điều kiện kết hôn của hai bên (như tình trạng hôn nhân thực tế hoặc các yếu tố ngăn cấm khác), thời hạn giải quyết sẽ được kéo dài nhưng không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.