Hướng dẫn chia thừa kế khi đất đứng tên hộ gia đình. Liên hệ ngay để được luật sư tư vấn miễn phí 24/7 các vấn đề pháp luật
Việc chia thừa kế đối với tài sản là quyền sử dụng đất đứng tên "hộ gia đình" thường phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp. Khó khăn lớn nhất nằm ở việc xác định chính xác phần diện tích nào thuộc về di sản của người chết và phần nào thuộc về các thành viên khác trong hộ. Việc xác định đúng phạm vi di sản sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cho những người thừa kế.
Theo quy định tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013, hộ gia đình sử dụng đất là những cá nhân có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; các cá nhân này đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Để một tài sản được coi là thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cần đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Lưu ý: Trên thực tế, việc chứng minh sự đóng góp để tạo lập tài sản thường rất khó khăn. Trong nhiều trường hợp, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào dòng chữ "Hộ ông..." hoặc "Hộ bà..." ghi trên Giấy chứng nhận để xác định chủ thể quyền sử dụng đất.
Việc xác định đúng diện tích đất thuộc di sản là yếu tố then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến suất thừa kế của mỗi cá nhân. Để thực hiện việc này, cần đối chiếu giữa danh sách thành viên trong hộ tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận và các biến động về nhân khẩu sau đó.
Ví dụ minh họa: Năm 2000, UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 300m2 cho hộ gia đình ông A. Tại thời điểm này, hộ gồm 3 người: ông A, vợ và con trai. Đến năm 2018, con trai ông A kết hôn; đến năm 20 lập di chúc/chết (năm 2021). Khi chia thừa kế, diện tích 300m2 sẽ được chia đều cho 3 thành viên gốc (mỗi người 100m2) vì họ có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm cấp sổ. Con dâu ông A không thuộc đối tượng hưởng quyền sử dụng đất của hộ này do không đáp ứng điều kiện là thành viên hộ gia đình tại thời điểm giao đất.
Sau khi xác định được phần diện tích di sản (trong ví dụ là 100m2 của ông A), việc phân chia sẽ dựa trên sự tồn tại của di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, di chúc có thể tồn tại dưới dạng di chúc miệng hoặc di chúc bằng văn bản (bao gồm các hình thức: không có người làm chứng, có người làm chứng, có công chứng hoặc có chứng thực). Riêng đối với di chúc miệng, Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chỉ áp dụng trong trường hợp tính mạng một người bị đe dọa bởi cái chết và không thể lập văn bản; sau 03 tháng nếu người lập di chúc vẫn sống sót và minh mẫn thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Để một di chúc có hiệu lực pháp luật, cần đáp ứng các điều kiện tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015:
Căn cứ Khoản 2 Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có toàn quyền định đoạt phần di sản của mình cho bất kỳ ai. Tuy nhiên, cần lưu ý về "người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc".
Theo Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những đối tượng sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba (2/3) suất của một người thừa kế theo pháp luật, ngay cả khi họ không được người chết cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng ít hơn mức này:
Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của những người thân thích gần gũi nhất với người để lại di sản. Lưu ý, quy định này không áp dụng nếu những người nêu trên từ chối nhận di sản hoặc thuộc diện không có quyền hưởng di sản.
Theo Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, việc chia di sản theo pháp luật sẽ được thực hiện trong các trường hợp:
Khi chia thừa kế theo pháp luật, di sản sẽ được phân chia cho những người thuộc diện thừa kế dựa trên mối quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng (phải có đăng ký hợp pháp). Thứ tự các hàng thừa kế được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
Nguyên tắc phân chia là những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó.