Bao nhiêu tuổi được đăng ký kết hôn? Luật sư tư vấn miễn phí 24/7 các vấn đề pháp luật hiện hành mới nhất
Để quan hệ hôn nhân được pháp luật bảo vệ, nam và nữ khi xác lập quan hệ vợ chồng cần phải đáp ứng các điều kiện nhất định, trong đó độ tuổi là một yếu tố then chốt. Việc tìm hiểu kỹ quy định về độ tuổi kết hôn giúp các cá nhân thực hiện đúng trình tự đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, tránh các rủi ro pháp lý không đáng có.
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Để việc kết hôn được công nhận hợp pháp, các bên phải tuân thủ điều kiện về độ tuổi cụ thể như sau:
Việc xác định "đủ tuổi" được hướng dẫn chi tiết tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Theo đó, tuổi được tính chính xác theo ngày, tháng, năm sinh trên giấy tờ hộ tịch:
Ví dụ thực tế: Nếu một cá nhân sinh ngày 10/01/1997, thì phải đến đúng ngày 10/01/2015 người đó mới được coi là đủ 18 tuổi để kết hôn. Nếu việc đăng ký diễn ra vào ngày 08/01/2015, cá nhân này vẫn chưa đủ điều kiện về độ tuổi theo quy định.
Dưới góc độ dân sự, theo Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Đây là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi do bệnh tâm thần hoặc các tình trạng khác), có khả năng nhận thức và tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình, bao gồm cả việc hình thành gia đình.
Trong trường hợp điều kiện đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, Điều 126 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, nếu việc kết hôn được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì người nước ngoài cũng phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam (Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi).
Tảo hôn được hiểu là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đạt đến độ tuổi kết hôn theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia quyết. Hành vi này có thể bị xử lý tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
Căn cứ theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình sẽ bị xử phạt như sau:
Nếu hành vi tổ chức tảo hôn có tính chất nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 183 Bộ luật Hình sự 2015 về "Tội tổ chức tảo hôn". Mức hình phạt có thể là cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù nếu đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm.
Cần phân biệt rõ giữa việc tổ chức lễ cưới (về mặt phong tục) và việc đăng ký kết hôn (về mặt pháp lý). Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân chỉ có giá trưởng pháp lý khi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu các bên tổ chức đám cưới nhưng chưa đủ tuổi theo quy định thì việc chung sống này không được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp.
Đáng chú ý, nếu sau khi tổ chức lễ cưới, các bên phát sinh quan hệ tình dục hoặc giao cấu với người dưới 16 tuổi, tùy vào mức độ và tính chất, người vi phạm có thể đối mặt với các tội danh nghiêm trọng như Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 Bộ luật Hình sự) hoặc Tội cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (Điều 144 Bộ luật Hình sự).