Tóm tắt nội dung bản án số 12/2022/HNGĐ-ST yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trong thực tiễn xét xử các vụ việc liên quan đến gia đình, việc xác định tính pháp lý của một mối quan hệ chung sống giữa nam và nữ là yếu tố then chốt. Bản án số 12/2022/HNGĐ-ST đã đưa ra phán quyết rõ ràng về trường hợp hai bên tự nguyện chung sống nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định, dẫn đến việc Tòa án tuyên bố không công nhập quan hệ giữa các đương sự là vợ chồng.
Về quan hệ nhân thân: Chị N và anh Th bắt đầu tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004. Mặc dù hai bên gia đình đã tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, tuy nhiên tại thời điểm bắt đầu chung sống, chị N chưa đủ điều kiện về độ tuổi để thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, giữa hai bên không có sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng.
Trong quá trình chung sống, dù thời gian đầu có hạnh phúc nhưng về sau, giữa chị N và anh Th phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn và không thể hàn gắn. Vì vậy, chị N đã nộp đơn yêu cầu Tòa án xem xét, quyết định không công nhận quan hệ giữa chị và anh Th là vợ chồng.
Về con chung: Hai bên có hai con chung là Cao Hải N (sinh ngày 14/10/2006) và Cao Đức G (sinh ngày 15/12/2009). Tại thời điểm giải quyết vụ án, các con đang được vợ chồng trực tiếp nuôi dưỡng. Về vấn đề sau khi chấm dứt chung sống, các bên đã đạt được thỏa thuận: anh Th sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con N, chị N sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con G. Hai bên thống nhất không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật đối với các con. Đồng thời, chị N có quyền thăm nom, chăm sóc con N và anh Th không được cản trở việc này.
Về tài sản chung: Các bên đã tự thỏa thuận xong về việc phân chia tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Qua xem xét các tình tiết khách quan và hồ sơ vụ án, Tòa án nhận định như sau:
Thứ nhất, việc anh Th và chị N chung sống với nhau từ năm 2004 nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn là hành vi vi phạm quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Do thiếu sự xác nhận pháp lý, quan hệ giữa hai bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc Tòa án không xem xét các mâu thuẫn để giải quyết cho ly hôn mà căn cứ vào quy định về việc không công nhận quan hệ hôn nhân là hoàn toàn có cơ sở.
Thứ hai, đối với thỏa thuận về con chung: Việc các đương sự tự nguyện phân chia quyền trực tiếp nuôi dưỡng con và thống nhất không yêu cầu cấp dưỡng là sự thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của cả hai bên. Xét thấy nội dung thỏa thuận này không vi phạm điều cản của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và đặc biệt là vẫn đảm bảo được nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các con chung nên Tòa án chấp nhận thỏa thuận này.
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm xét xử như sau:
Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án quyết định tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị N và anh Th là vợ chồng, đồng thời công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi dưỡng con chung.