Pháp luật quy đinh như thế nào về việc giáo viên có được thành lập DN?/ Quy định pháp luật về việc thành lậ doanh nghiệp của giáo viên

Trong bối cảnh nhu cầu gia tăng thu nhập ngoài công việc giảng dạy trên lớp ngày càng phổ biến, nhiều giáo viên đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư hoặc khởi nghiệp. Câu hỏi đặt ra là: Liệu giáo viên (đặc biệt là giáo viên tại các cơ sở giáo dục công lập) có được phép thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia góp vốn kinh doanh hay không? Bài viết dưới đây sẽ phân tích dựa trên các quy định của Luật Viên chức và Luật Doanh nghiệp hiện hành.
Để xác định quyền thành lập doanh nghiệp, trước hết cần làm rõ tư cách pháp lý của giáo viên tại các cơ sở giáo động công lập. Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, giáo viên tại các trường công lập về bản chất là đối tượng thuộc nhóm viên chức.
Liên quan đến quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định rõ những đối tượng không có quyền thực hiện hoạt động này tại Việt Nam, bao gồm:
Từ những căn cứ pháp lý nêu trên, có thể kết luận rằng giáo viên đang làm việc tại các cơ sở giáo dục công lập (với tư cách là viên chức) không được phép đứng tên thành lập mới hoặc trực tiếp tham gia vào vai trò quản lý doanh nghiệp.
Mặc dù bị hạn chế quyền thành lập và quản lý, nhưng pháp luật không cấm hoàn toàn việc giáo viên trường công tham gia vào các hoạt động đầu tư dưới hình thức góp vốn. Cụ thuộc vào mục đích và vai trò, giáo viên có thể thực hiện quyền này nếu tuân thủ đúng các điều kiện về quản lý.
Căn cứ Khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp như cơ quan nhà nước sử dụng tài sản công để thu lợi riêng hoặc các đối tượng bị cấm theo Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Luật Phòng, chống tham nhũng.
Đặc biệt, tại Điều 14 Luật Viên chức cũng quy định rõ về quyền hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc của viên chức. Theo đó, giáo viên được phép:
Như vậy, về mặt pháp lý, giáo viên trường công hoàn toàn có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư, mua cổ phần hoặc góp vốn vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận, miễn là họ không giữ các chức danh quản lý như Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị hay người đại diện theo pháp luật. Việc này cần được thực hiện cẩn trọng để tránh vi phạm các quy định về xung đột lợi ích và trách nhiệm của viên chức.
Nếu bạn đang có ý định đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác nhau, hãy tìm hiểu thêm về những lưu ý về góp vốn thành lập công ty TNHH để đảm bảo quyền lợi của mình. Đồng thời, khi thực hiện các giao dịch đầu tư lớn, việc nắm rõ một số quy định về hợp đồng góp vốn đầu tư là vô cùng cần thiết để hạn chế rủi ro pháp lý.
Cần lưu ý rằng, các quy định về hạn chế quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp nêu trên chỉ áp dụng đối với nhóm đối tượng là viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Đối với đội ngũ giáo viên đang làm việc tại các trường dân lập, trường tư thục hoặc các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, pháp luật hiện hành không có quy định cấm họ thành lập doanh nghiệp hay tham gia quản lý kinh doanh. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư thành lập tổ chức kinh tế ở Việt Nam và phát triển các hoạt động kinh doanh cá nhân theo quy định của pháp luật về lao động và doanh nghiệp.