Môi trường đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như hệ sinh thái. Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay, các yếu tố tác động tiêu cực đến môi trường đang trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Việc hiểu rõ khái niệm, nguyên tắc và các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường là vô cùng cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Khái niệm về môi trường
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, môi trường được hiểu là bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người. Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, hoạt động kinh tế, xã hội cũng như sự tồn tại và phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.
Quy định chung về bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng một cá nhân nào mà được pháp luật quy định rõ ràng thông qua các nguyên tắc và các hành vi bị nghiêm cảm.
Nguyên tắc bảo vệ môi trường
Căn cứ Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, hoạt động bảo vệ môi trường phải tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Trách nhiệm chung: Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân.
- Nền tảng phát triển bền vững: Bảo vệ môi trường là yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Hoạt động này phải gắn kết chặt chẽ với quản lý tài nguyên và được xem xét trong quá trình đánh giá các hoạt động phát triển.
- Đảm bảo công bằng và an sinh: Bảo vệ môi trường phải gắn liền với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới và đảm bảo quyền của mọi người được sống trong môi trường trong lành.
- Tính minh bạch và phòng ngừa: Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch. Ưu tiên các biện pháp dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường; tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để tối ưu hóa giá lượng tài nguyên.
- Phù hợp với đặc thù địa phương: Việc bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật tự nhiên, văn hóa, lịch sử và cơ chế thị trường, đồng thời thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền: Các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường. Bên gây ô nhiễm, sự cố hoặc suy thoái môi trường phải có trách nhiệm chi trả, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả theo quy định pháp luật.
- An ninh quốc gia: Hoạt động bảo vệ môi trường phải đảm bảo không gây phương hại đến chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia, gắn liền với việc bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường
Để ngăn chặn các tác động tiêu cực, Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 202 phục vụ việc kiểm soát các hành vi sau:
- Vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải hoặc đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật và quy định pháp luật.
- Xả nước thải, khí thải chưa qua xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường.
- Phát tán, thải ra môi trường các chất độc hại, vi rút có khả năng lây nhiễm cho con người, động vật, vi sinh vật chưa được kiểm định; xả xác súc vật chết do dịch bệnh hoặc tác nhân độc hại khác.
- Gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép; xả thải khói, bụi, khí có mùi độc hại vào không khí.
- Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện pháp lý về bảo vệ môi trường.
- Nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất hoặc quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức; nhập khẩu trái phép máy móc, thiết bị đã qua sử dụng để phá dỡ, tái chế.
- Không thực hiện các công trình, biện quyết phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường theo quy định.
- Che giấu hành vi gây ô nhiễm, làm sai lệch hoặc gian dối thông tin trong hoạt động bảo vệ môi trường dẫn đến hậu quả xấu.
- Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho sức khỏe con người và sinh vật; sử dụng nguyên liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quy chuẩn.
- Sản xuất, tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ôzôn theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên hoặc các công trình, thiết bị phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện các hành vi trái quy định pháp luật về môi trường.
Hiện trạng bảo vệ môi trường
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều áp lực lớn. Tình trạng ô nhiễm diễn ra liên tục, chất lượng môi trường tại nhiều khu vực suy giảm mạnh và các sự cố môi trường ngày càng trở nên phức tạp.
Thực trạng ô nhiễm
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này thường xuất phát từ việc các cơ sở sản xuất, kinh doanh xả thải trực tiếp chất thải chưa qua xử lý ra môi trường. Bên cạnh đó, các sự cố về hạ tầng như rò rỉ hóa chất, cháy nổ hoặc tràn dầu cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm môi trường ở Hà Nội hiện nay là một ví dụ điển hình về áp lực từ khí thải và chất thải rắn.
Thách thức trong công tác quản lý
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng việc thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường vẫn gặp nhiều khó khăn:
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thu gom và xử lý chất thải còn thiếu hụt, chưa được đầu tư đồng bộ.
- Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đôi khi còn chồng chéo, gây khó khăn cho việc áp dụng thực tế.
- Các công cụ quản lý môi trường chưa phát huy tối đa hiệu quả; các phương thức tiếp cận mới chưa được thể chế hóa kịp thời để ứng phó với sự biến đổi nhanh chóng của các vấn đề môi trường.
Sự cần thiết và các cấp độ bảo vệ môi trường
Việc bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp bách vì môi trường cung cấp nguồn tài nguyên thiết yếu duy trì sự sống, đóng vai trò lưu trữ thông tin sinh thái và bảo vệ hệ sinh thái khỏi các tác động tiêu cực từ bên ngoài. Để quản lý hiệu quả, công tác quy hoạch bảo vệ môi trường được thực hiện ở hai cấp độ chính: Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
Bên cạnh đó, việc điều chỉnh các chính sách kinh tế cũng góp phần vào mục tiêu này, ví dụ như Nghị quyết 18/2022/UBTVQH15 mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn đã có những điều chỉnh về thuế nhằm hỗ trợ nền kinh tế trong giai đoạn biến động.