Tội buộc người lao động thôi việc trái pháp luật
Hành vi buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật là hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của người lao động. Theo quy định tại Điều 162 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm.
Quy định về tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật
Căn cứ theo Điều 162 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, các quy định cụ thể về hình phạt đối với hành vi này như sau:
- Khung hình phạt cơ bản: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm, bao gồm các hành vi: Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức; Sa thải trái pháp luật đối với người lao động; Cưỡng ép, đe dọa buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc.
- Khung hình phạt tăng nặng: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: Thực hiện đối với từ 02 người trở lên; Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai; Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; Làm cho người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát.
- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm các chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Thực trạng buộc người lao động nghỉ việc để tránh chi trả thưởng Tết
Theo quy định pháp luật lao động, tiền thưởng Tết Nguyên đán không phải là khoản bắt buộc trong mọi trường hợp (tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và thỏa thuận). Tuy nhiên, thực tế tại nhiều doanh nghiệp hiện nay xuất hiện tình trạng người sử dụng lao động chủ động chấm dứt hợp đồng lao động trước dịp Tết âm lịch nhằm mục đích "né tránh" nghĩa vụ chi trả lương tháng 13 hoặc các khoản thưởng khác.
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có lý do chính đáng, không tuân thủ đúng trình tự pháp luật sẽ dẫn đến những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng cho doanh nghiệp. Người lao động cần lưu ý về chấm dứt hợp đồng lao động và hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật để bảo vệ quyền lợi của mình.
Trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật Lao động
Khi doanh nghiệp thực hiện việc cho nhân viên nghỉ việc không có căn cứ pháp luật, hành vi này được xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Do đó, người sử dụng lao động phải chịu các trách nhiệm sau:
- Trường hợp người lao động đồng ý quay lại làm việc: Doanh nghiệp phải nhận người lao động trở lại làm việc theo đúng hợp đồng đã giao kết; đồng thời phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo chế độ bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc, cộng thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc: Doanh nghiệp phải trả đầy đủ tiền lương, các khoản bảo hiểm trong thời gian không được làm việc, cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng và thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động.
- Trường hợp hai bên thỏa thuận chấm dứt nhưng không muốn nhận lại: Doanh nghiệp phải bồi thường các khoản lương, bảo hiểm tương ứng với thời gian không được làm việc và ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng; ngoài ra, hai bên có thể thương lượng thêm một khoản bồi thường khác nhưng không thấp hơn 02 tháng tiền lương.
- Trường hợp vi phạm thời hạn báo trước: Người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không tuân thủ đúng thời hạn báo trước theo quy định.
Rủi ro về trách nhiệm hình sự
Nếu hành vi sa thải hoặc buộc thôi việc nhằm mục đích cá nhân (vụ lợi) gây ra hậu quả nghiêm trọng như khiến gia đình người lao động lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công, người điều hành doanh nghiệp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 162 Bộ luật Hình sự. Việc áp dụng các biện pháp kỷ luật không đúng quy trình, đặc biệt là khi quy định về chuyển người lao động làm công việc khác so với HĐLĐ hoặc các thay đổi nhân sự không đúng luật, sẽ là căn cứ để cơ quan chức năng xem xét tính chất vi phạm của doanh nghiệp.
Tóm lại, mọi hành vi chấm dứt hợp đồng lao động cần dựa trên các căn cứ pháp lý rõ ràng và tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm tránh các rủi ro về bồi thường dân sự cũng như trách nhiệm hình sự đối với người quản lý doanh nghiệp.