Thế nào là cán bộ? Thế nào là công chức? Thế nào là viên chức? Phân tích khái niệm và quy định của pháp luật về cán bộ...
Cán bộ, công chức và viên chức là ba nhóm đối tượng thường bị nhầm lẫn trong thực tế. Việc phân biệt cán bộ công chức viên chức giúp xác định đúng quy chế tuyển dụng, chế độ làm việc và các quyền, nghĩa vụ pháp lý của từng nhóm. Bài viết phân tích khái niệm dựa trên quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đặc trưng của cán bộ là gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ. Khi hết nhiệm kỳ hoặc không được bầu lại, người đó có thể không còn là cán bộ.
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức làm việc tại các cơ quan, tổ chức như:
Khác với cán bộ, công chức gắn với cơ chế tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch, mang tính ổn định, lâu dài hơn.
Theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản của viên chức là làm việc theo hợp đồng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp như trường học, bệnh viện công lập, viện nghiên cứu, thay vì hưởng lương từ ngân sách nhà nước như cán bộ, công chức.
Việc xác định đúng một người là cán bộ, công chức hay viên chức có ý nghĩa quan trọng trong áp dụng chế độ tuyển dụng, đánh giá, kỷ luật và giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường của cán bộ, công chức.