Các trường hợp phải bồi thường chi phí đào tạo theo chế độ cử tuyển được nhà nước Việt Nam quy định rõ theo các tiêu chí sau
Việc bồi thường chi phí đào tạo đặt ra khi người lao động hoặc cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo nhưng không thực hiện đúng cam kết phục vụ. Bài viết phân tích các trường hợp phải bồi thường chi phí đào tạo và cách tính mức bồi thường theo quy định pháp luật năm 2019, áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 đối với người lao động và Nghị định số 101/2017/NĐ-CP đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, các trường hợp phải hoàn trả chi phí đào tạo gồm:
Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường lớp, máy móc thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học (nếu có).
Đối với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, các trường hợp phải bồi thường chi phí đào tạo gồm:
Theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, đối với cán bộ, công chức, viên chức đã hoàn thành khóa học nhưng chưa phục vụ đủ thời gian cam kết, mức bồi thường được tính theo công thức:
S = (F / T1) x (T1 − T2)
Trong đó:
Lưu ý: trường hợp tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đang đào tạo hoặc không được cấp văn bằng, chứng chỉ thì phải bồi thường 100% chi phí đào tạo. Việc xác định đúng đối tượng là cán bộ, công chức hay viên chức có ý nghĩa quan trọng khi áp dụng chế độ bồi thường này.