Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một trong những quyền cơ bản của người lao động, cho phép họ chủ động kết thúc quan hệ lao động trước thời hạn khi đáp ứng các điều kiện luật định. Tại thời điểm bài viết (năm 2019), quyền này được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động 2012, cụ thể là Điều 37.
Điều kiện thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Theo Điều 37 Bộ luật Lao động 2012, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được phân biệt theo loại hợp đồng:
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng: người lao động phải có một trong các căn cứ chấm dứt hợp pháp (như không được bố trí đúng công việc, địa điểm, điều kiện làm việc đã thỏa thuận; không được trả lương đầy đủ hoặc đúng hạn; bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn; lao động nữ mang thai phải nghỉ theo chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh...) đồng thời phải tuân thủ thời hạn báo trước.
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: người lao động có quyền đơn phương chấm dứt mà không cần nêu lý do, nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động.
Nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước theo thời hạn tương ứng:
- Ít nhất 3 ngày làm việc đối với một số trường hợp như không được bố trí đúng công việc/điều kiện làm việc, không được trả lương đúng hạn, bị ngược đãi, hoặc ốm đau, tai nạn đã điều trị dài ngày mà chưa hồi phục.
- Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 3 ngày làm việc nếu là hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định dưới 12 tháng, đối với trường hợp gia đình khó khăn hoặc được bầu, bổ nhiệm giữ chức vụ.
- Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người lao động phải báo trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
Hậu quả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật
Nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không đúng căn cứ hoặc vi phạm thời hạn báo trước thì bị coi là chấm dứt trái pháp luật. Khi đó, người lao động không được trợ cấp thôi việc, phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng và một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước, đồng thời hoàn trả chi phí đào tạo (nếu có).
Việc nắm rõ quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thực hiện đúng thủ tục báo trước giúp người lao động bảo vệ quyền lợi, tránh phát sinh trách nhiệm bồi thường không đáng có.
Xem thêm các chủ đề khác