Thứ nhất, cần hiểu rõ người lao động nghỉ việc như thế nào thì được coi là tự ý nghỉ và có vi phạm pháp luật không?
Người lao động tự ý nghỉ việc là tình huống phát sinh khá phổ biến trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ khi nào việc nghỉ việc bị coi là trái pháp luật và hậu quả pháp lý đi kèm. Bài viết phân tích các trường hợp người lao động tự ý nghỉ việc và trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012.
Trước hết, cần xác định người lao động nghỉ việc như thế nào thì bị coi là "tự ý nghỉ" và có vi phạm pháp luật hay không. Có thể chia thành hai trường hợp cơ bản.
Khi phát sinh quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng lao động ghi nhận công việc, quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012, người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nếu thuộc một trong các trường hợp:
Ngoài lý do, người lao động còn phải bảo đảm thời gian báo trước: ít nhất 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn; ít nhất 3 ngày với một số trường hợp hợp đồng theo mùa vụ; và ít nhất 45 ngày với hợp đồng không xác định thời hạn (theo khoản 2, khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012). Nếu không đáp ứng đủ điều kiện về lý do và thời gian báo trước thì việc nghỉ việc bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Trường hợp người lao động tự ý nghỉ trong thời gian ngắn và vẫn tiếp tục làm việc, không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012, nếu người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm, người sử dụng lao động có thể áp dụng hình thức kỷ luật sa thải. Việc sa thải phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và do người có thẩm quyền quyết định, nếu không sẽ bị coi là trái pháp luật.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, theo Điều 43 Bộ luật Lao động năm 2012, người lao động phải chịu các hậu quả:
Ngoài ra, người lao động tự ý nghỉ việc trái pháp luật còn có thể không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Về việc bàn giao công việc, pháp luật không bắt buộc, trừ khi hợp đồng lao động có thỏa thuận về trách nhiệm bàn giao.
Dù trong hoàn cảnh nào, người lao động cũng nên hiểu rõ quy định pháp luật và điều lệ doanh nghiệp để tránh bất lợi và tự bảo vệ quyền lợi của mình. Người sử dụng lao động cũng cần nắm vững quy định để xử lý phù hợp, bảo đảm quyền lợi cho cả hai bên.