Nhận thấy những vướng mắc mà khách hàng gặp phải, LegalZone tư vấn cho quý khách về Thủ tục ly hôn đơn phương với người nước ngoài.
Thủ tục ly hôn đơn phương với người nước ngoài là một trong những vụ việc hôn nhân có yếu tố nước ngoài tương đối phức tạp, đặc biệt khi một bên đương sự cư trú ở nước ngoài. Bài viết hệ thống lại căn cứ pháp lý, hồ sơ, thẩm quyền, trình tự và án phí theo quy định pháp luật.
Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Lưu ý: nếu cả hai vợ chồng cùng đồng ý ly hôn, đã thỏa thuận xong việc chia tài sản (hoặc không yêu cầu Tòa chia) và thỏa thuận được người nuôi con, người cấp dưỡng thì Tòa án sẽ xác định đây là trường hợp thuận tình ly hôn.
Theo điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam, hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.
Khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật này quy định: tranh chấp hôn nhân và gia đình mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Như vậy, thẩm quyền giải quyết đơn phương ly hôn mà một bên ở nước ngoài thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi một bên cư trú tại Việt Nam.
Tổng thể, thời gian giải quyết vụ án đơn phương ly hôn với người nước ngoài thường khoảng 09 đến 12 tháng kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án.
Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, tiền án phí giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình (đơn phương ly hôn) là 300.000 đồng; lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 200.000 đồng. Trường hợp có tranh chấp tài sản có giá trị trên 6.000.000 đồng thì án phí chia tài sản được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản tranh chấp theo quy định tại Nghị quyết này.