Thủ tục ly hôn cần những giấy tờ gì LegalZone tổng hợp thông tin mà một người đang có ý định ly hôn nhất định phải biết
Ly hôn là lựa chọn cuối cùng và không ai mong muốn trong quan hệ hôn nhân. Khi đã quyết định, nhiều người băn khoăn thủ tục ly hôn cần giấy tờ gì, nộp đơn ở đâu và mất bao lâu. Bài viết tổng hợp các quy định cơ bản theo Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 và Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13.
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn gồm:
Lưu ý, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, người vợ trong các trường hợp này vẫn có quyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn.
Quan hệ hôn nhân có thể chấm dứt nếu hai bên cùng thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của một bên, tương ứng với hai hình thức:
Về cơ bản, giấy tờ dùng cho trường hợp thuận tình và đơn phương ly hôn tương tự nhau, gồm:
Trường hợp không giữ Giấy chứng nhận kết hôn, có thể liên hệ cơ quan hộ tịch nơi đã đăng ký kết hôn để xin cấp bản sao. Nếu không có chứng minh nhân dân thì nộp giấy tờ tùy thân khác theo hướng dẫn của Tòa án.
Điểm khác biệt giữa hai hình thức nằm ở nội dung đơn: đơn phương ly hôn dùng mẫu đơn khởi kiện, còn thuận tình ly hôn dùng đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm về ly hôn.
Thời gian giải quyết một vụ thuận tình ly hôn thường khoảng 02 – 03 tháng; đơn phương ly hôn kéo dài hơn, khoảng 04 – 06 tháng, có thể lâu hơn nếu phát sinh tranh chấp về tài sản, quyền nuôi con.
Về án phí, theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: án phí cho vụ ly hôn không có tranh chấp tài sản là 300.000 đồng; trường hợp có tranh chấp về tài sản, đương sự còn phải chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp.
Về tài sản, nếu hai bên thỏa thuận được thì Tòa án công nhận; nếu không, Tòa giải quyết theo nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp; việc bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh; và lỗi của mỗi bên.
Về quyền nuôi con, theo Điều 80 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nếu hai bên thỏa thuận được thì Tòa án công nhận; nếu không, Tòa giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.