Thủ tục đổi dân tộc của con nuôi theo quy định pháp luật. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ
Việc nhận nuôi con nuôi là một hành vi nhân đạo phổ biến tại Việt Nam nhằm tìm kiếm môi trường gia đình tốt nhất cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cả cha mẹ nuôi và con nuôi, các bên cần tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Một trong những vấn đề thường gặp sau khi hoàn tất thủ tục là việc xác định hoặc thay đổi dân tộc cho trẻ em được nhận làm con nuôi. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định liên quan đến thẩm quyền, điều kiện và thủ tục này.
Căn cứ theo Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 2 hay 24/2019/NĐ-CP), thẩm quyền đăng ký được phân định như sau:
Để hiểu rõ hơn về việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan, quý độc giả có thể tham khảo thêm về thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi.
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, người muốn nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
Lưu ý, pháp luật nghiêm cấm việc nhận con nuôi đối với những người đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử thực hiện tại cơ sở giáo dục, chữa bệnh hoặc đang chấp hành hình phạt tù; hoặc chưa được xóa án tích về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; hoặc có hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Theo Điều 8 Luật Nuôi con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi bao gồm:
Ngoài ra, một người chỉ có thể làm con của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.
Dựa trên Điều 17 Luật Nuôi con nuôi và hướng dẫn tại Nghị định 19/2011/NĐ-CP, hồ sơ bao gồm:
Quy trình được thực hiện theo Điều 22 Luật Nuôi con nuôi và Điều 10 Nghị định 19/2011/NĐ-CP:
Nếu bạn đang tìm hiểu về cách thức thực hiện tại địa phương, có thể xem thêm hướng dẫn thủ tục xin con nuôi trong nước.
Vấn đề xác định lại dân tộc thường phát sinh khi trẻ em bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Dân sự 201 lưu ý:
Bên cạnh đó, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi cũng quy định về hệ quả pháp lý: Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi (nếu trẻ từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của chính đứa trẻ đó). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc thay đổi dân tộc của con nuôi về mặt pháp lý chỉ áp dụng chủ yếu đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được xác định lại theo cha mẹ nuôi.
Như vậy, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhân thân và thực hiện đúng trình tự đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, việc xác định dân tộc cho con nuôi là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nhằm đảm bảo sự thống nhất về nguồn gốc và bản sắc gia đình mới của trẻ.