Việc nhận nuôi con nuôi là một thực tế phổ biến tại Việt Nam nhằm mục đích nhân đạo và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho cả cha mẹ nuôi và con nuôi, các bên cần tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Một trong những vấn đề thường gặp được nhiều người quan tâm là việc thay đổi dân tộc của con nuôi sau khi hoàn tất thủ tục nhận con. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định pháp lý liên quan đến vấn đề này.
Quy định pháp luật về việc đăng ký nuôi con nuôi
Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi
Căn cứ Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP), thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi được quy định cụ thể như sau:
- Đối với việc nuôi con nuôi trong nước: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký. Trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ/chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì thẩm quyền thuộc về UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận làm con nuôi. Đối với trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng, thẩm quyền thuộc về UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng bỏ rơi; nếu trẻ đã ở cơ sở nuôi dưỡng thì thuộc về UBND cấp xã nơi có trụ sở cơ sở đó.
- Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi. Sau khi có quyết định của UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp sẽ thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài.
- Đối với trường hợp công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài: Cơ quan đại diện Việt Nam tại nơi tạm trú của người được nhận hoặc người nhận làm con nuôi thực hiện đăng trình tự đăng ký nhận con nuôi.
Điều kiện đối với người nhận con nuôi
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, người nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.
- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.
- Có tư cách đạo danh tốt.
Đặc biệt, pháp luật nghiêm cấm những người đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; hoặc chưa được xóa án tích về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; hoặc có hành vi dụ dỗ, ép buộc, mua bán, đánh tráo trẻ em thì không được phép nhận nuôi con nuôi.
Điều kiện đối với trẻ em được nhận làm con nuôi
Căn cứ Khoản 1, 2, 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi phải thuộc các trường hợp:
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
- Trẻ em từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
Hồ sơ và trình tự thực hiện thủ tục nuôi con nuôi
Hồ sơ của người nhận con nuôi
Theo Điều 17 Luật Nuôi con nuôi và hướng dẫn tại Nghị định về thi hành Luật này, hồ sơ bao gồm:
- Đơn xin nhận con nuôi.
- Bản sao Hộ chiếu, Chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế khác.
- Phiếu lý lịch tư pháp.
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở và điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi thường trú cấp.
Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi
Đối với trường hợp hướng dẫn thủ tục xin con nuôi trong nước, hồ sơ cần có: Giấy khai sinh; Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; và 02 ảnh toàn thân (nhìn thẳng, chụp không quá 06 tháng).
Trình tự thực hiện
Căn cứ Điều 22 Luật Nuông con nuôi và Điều 10 Nghị định 19/2011/NĐ-CP, quy trình được thực hiện như sau:
- Công chức tư pháp – hộ tịch tiến hành kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến các bên liên quan.
- UBND cấp xã tổ chức đăng ký, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên và ghi vào sổ hộ tịch. Trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản.
- Khi đăng ký, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ (hoặc người giám hộ) và người được nhận làm con nuôi phải có mặt trực tiếp.
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận cho các bên.
Quy định về việc thay đổi dân tộc của con nuôi
Vấn đề xác định lại dân tộc được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Trẻ em sinh ra được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ dựa trên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì theo tập quán.
- Đối với trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha mẹ và được nhận làm con nuôi: Dân tộc của trẻ sẽ được xác định theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Nếu chỉ có một bên (cha hoặc mẹ nuôi) thì xác định theo dân tộc của người đó.
Kết hợp với Điều 24 Luật Nuôi con nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi cho thấy: Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi (nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của trẻ). Tuy nhiên, đối với vấn đề dân tộc, pháp luật quy định rõ ràng rằng việc xác định dân tộc cho trẻ em bị bỏ rơi sẽ dựa trên dân tộc của cha mẹ nuôi đã nhận nuôi trẻ.
Như vậy, về mặt pháp lý, việc thay đổi dân tộc cho con nuôi chỉ áp dụng đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha mẹ đẻ và đã được thực hiện thủ tục nhận làm con nuôi theo đúng quy định.