Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên cho con nuôi theo điểm b khoản 1 Điều 27
Việc nhận nuôi con nuôi là một hoạt động nhân đạo phổ biến tại Việt Nam. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ em và sự ổn định về mặt pháp lý, các bên liên quan cần thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm sau khi hoàn tất việc nhận con nuôi chính là khả năng thay đổi họ, tên cho trẻ để phù hợp với gia đình mới. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp các thông tin pháp lý liên quan đến thẩm quyền, điều kiện và thủ tục thay đổi họ tên cho con nuôi.
Căn cứ Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010 và quy định tại Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP), thẩm quyền đăng ký được xác định như sau:
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, người nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Đặc biệt, pháp luật quy định các trường hợp không được phép nhận nuôi con nuôi bao gồm: Người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người đang chấp hành quyết trình xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang chấp hành hình phạt tù; người chưa được xóa án tích về các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; hoặc người có hành vi dụ dỗ, ép buộc, chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Theo Khoản 1, 2 và 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi phải thuộc các trường hợp:
Trong quá trình thực hiện đăng ký nhận con nuôi, các bên cần lưu ý kỹ về độ tuổi và mối quan hệ huyết thống để đảm bảo hồ sơ hợp lệ.
Theo Điều 17 Luật Nuôi con nuôi và Điều 7 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP), hồ sơ bao gồm:
Đối với trường hợp nhận trẻ mồ côi làm con nuôi trong nước, hồ sơ cần có: Giấy khai sinh; Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng.
Căn cứ Điều 22 Luật Nuôi con nuôi và Điều 10 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP):
Sau khi hoàn tất việc nhận con nuôi, nếu cha mẹ nuôi có nguyện vọng thay đổi thông tin cá nhân cho trẻ để phù hợp với gia đình mới, pháp luật hiện hành (tại thời điểm năm 2020) quy định như sau:
Theo điểm b khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước công nhận việc thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đợ sang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo yêu cầu của cha mẹ nuôi. Ngoài ra, căn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, theo yêu cầu của cha mẹ nuôi và sự đồng ý của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của con nuôi. Thủ tục thay đổi họ tên cho con nuôi cũng bao gồm việc thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định tại Điều 26 Luật Hộ tịch.
Về thẩm quyền:
Về hồ sơ theo Điều 28 Luật Hộ tịch:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, nếu thấy việc thay đổi là có cơ sở và phù hợp quy định, công chức tư pháp – hộ tịch sẽ ghi vào Sổ hộ tịch cùng người yêu cầu. Trường hợp cần xác minh thêm, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 03 ngày làm việc.