Hồ sơ nhận nuôi trẻ sơ sinh hay hồ sơ nhận nuôi con nuôi được quy định tại Luật nuôi con nuôi 2010 và Nghị định 19/2011/NĐ-CP.
Việc nhận nuôi trẻ sơ sinh, đặc biệt là những trường hợp trẻ không xác định được cha mẹ đẻ, là một hành động nhân văn cao cả. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ em và tuân thủ đúng quy định của pháp luật, người nhận nuôi cần nắm rõ các điều kiện về hồ sơ và trình tự thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.
Các nội dung dưới đây được tổng hợp dựa trên hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến việc nuôi con nuôi tại thời điểm năm 202 chế độ pháp lý áp dụng:
Để thực hiện việc nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, cả người nhận và người được nhận đều phải đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể.
Theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, người nhận nuôi con nuôi phải hội đủ các điều kiện sau:
Lưu ý các trường hợp không được nhận nuôi: Người đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; người đang chấp hành hình phạt tù; hoặc người chưa được xóa án tích về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu; tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Riêng đối với trường hợp cha dượng/mẹ kế nhận con riêng của vợ/chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi, pháp luật không áp dụng điều kiện phải hơn con nuôi từ 20 tuổi và không bắt buộc khắt khe về điều kiện kinh tế, chỗ ở như các trường hợp khác.
Theo Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010, trẻ em dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu thuộc các trường hợp: được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Nhà nước luôn khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
Đặc biệt, theo Khoản 4 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010, cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi đứa trẻ đã được sinh ra ít nhất 15 ngày. Điều này nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về sức khỏe của trẻ trước khi thực hiện các thủ tục pháp lý.
Đối với các trường hợp có yếu tố nước ngoài, việc dịch vụ pháp lý nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cho phép áp dụng chế độ nhận con nuôi đích danh đối với trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác (như sứt môi hở hàm ếch, mù, câm, điếc, khuyết tật chi, các bệnh về tim, máu... theo quy định tại Điều 3 Nghị định 19/2011/NĐ-CP).
Việc đăng ký nhận con nuôi đòi hỏi bộ hồ sơ đầy đủ cho cả hai phía: người nhận và người được giới thiệu làm con nuôi.
Căn cứ Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010 và Điều 7 Nghị định 19/2011/NĐ-CP, hồ sơ bao gồm:
Các giấy tờ như Phiếu lý lịch tư pháp, giấy khám sức khỏe và văn bản xác nhận hoàn cảnh chỉ có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ.
Căn cứ Điều 18 Luật Nuôi con nuôi 2010, hồ sơ bao gồm:
Khi thực hiện trình tự thủ tục nhận nuôi trẻ sơ sinh trong nước, hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành 01 bộ. Nếu người nhận và người được nhận không cùng thường trú tại một địa bàn xã, việc xác nhận hoàn cảnh gia đình sẽ do UBND cấp xã nơi người nhận thường trú hoặc công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện xác minh tùy theo nơi nộp hồ sơ.
Về lệ phí, căn cứ Nghị định 114/2016/NĐ-CP, mức thu và đối tượng nộp lệ phí được quy định rõ ràng cho từng trường hợp (trong nước, có yếu tố nước ngoài hoặc tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) nhằm đảm bảo tính minh bạch trong quản lý nhà nước về nuôi con nuôi.