Tùy theo lại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn đầu tư khác nhau.
Trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, việc tăng cường nguồn vốn để mở rộng quy mô thị trường là nhu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào loại hình pháp lý và đặc điểm cấu trúc tài chính, mỗi đơn vị sẽ áp dụng các phương thức tạo vốn khác nhau. Việc hiểu rõ các nguồn vốn đầu tư là gì và cách thức tiếp cận chúng sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch tài chính dài hạn.
Dưới đây là các hình thức huy động vốn phổ biến mà doanh nghiệp có thể áp dụng:
Vốn góp ban đầu là phần tài sản được các chủ sở hữu đóng góp ngay tại thời điểm thành lập pháp nhân. Hình thức sở hữu và loại hình doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất của nguồn vốn này:
Đây là hình thức sử dụng nguồn lợi nhuận sau thuế được giữ lại để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì phân phối cho các chủ sở hữu.
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Để thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn tài sản giữa Ngân hàng và bên đi vay (các tổ trưởng kinh tế hoặc cá nhân). Theo đó, Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận; bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi khi đến hạn.
Các hình thức phổ biến bao gồm: hợp đồng tín dụng từng lần, cho vay theo hạn mức, thỏa thuận tín dụng tuần hoàn hoặc các khoản cho vay đầu tư trung và dài hạn. Đây là nguồn lực quan trọng giúp công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng như doanh nghiệp trong nước duy trì dòng tiền hoạt động.
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng phát sinh trực tiếp giữa các doanh nghiệp trong quá trình mua bán hàng hóa dưới hình thức mua bán chịu. Hình thức này bao gồm ba loại chính:
Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, xác nhận nghĩa vụ của tổ chức phát hành trong việc trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ khác đối với người sở hữu trái phiếu.
Theo quy định pháp luật tại thời điểm hiện tại, đối tượng được phép phát hành trái phiếu bao gồm:
Ngoài các phương thức nêu trên, tùy vào chiến lược tài chính, doanh nghiệp còn có thể tìm kiếm nguồn vốn từ việc vay vốn cá nhân, các quỹ đầu tư, hoặc thông qua hình thức thuê tài chính để tối ưu hóa cấu trúc vốn của mình.