Trình tự, thủ tục hồ sơ công bố sản phẩm theo quy định pháp luật mới nhất 2020 | Dịch vụ tư vấn cấp giấy phép con theo quy định pháp luật.

Hồ sơ công bố sản phẩm là thủ tục bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm trước khi đưa sản phẩm ra thị trường. Tùy từng nhóm sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm. Bài viết tổng hợp trình tự, thành phần hồ sơ theo quy định của Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được tự công bố đối với các nhóm sản phẩm sau:
Các sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước thì được miễn thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm.
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận bản tự công bố để lưu trữ hồ sơ và đăng tải tên tổ chức, cá nhân cùng tên các sản phẩm tự công bố trên trang thông tin điện tử.
Ngay sau khi tự công bố, tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn của sản phẩm đó. Khi sản phẩm thay đổi về tên, xuất xứ, thành phần cấu tạo thì phải tự công bố lại; các thay đổi khác chỉ cần thông báo bằng văn bản.
Theo Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, các sản phẩm sau phải đăng ký bản công bố sản phẩm:
Bước 1 - Nộp hồ sơ: Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến, đường bưu điện hoặc trực tiếp. Cơ quan tiếp nhận gồm:
Bước 2 - Xử lý hồ sơ: Thời hạn thẩm định là 07 ngày làm việc đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ đến 36 tháng tuổi và phụ gia thực phẩm; 21 ngày làm việc đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Cơ quan tiếp nhận chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung 01 lần; sau 90 ngày làm việc kể từ khi có công văn yêu cầu mà tổ chức, cá nhân không bổ sung thì hồ sơ không còn giá trị.
Các tài liệu trong hồ sơ phải thể hiện bằng tiếng Việt; tài liệu tiếng nước ngoài phải dịch sang tiếng Việt và được công chứng, còn hiệu lực tại thời điểm nộp.