Hoạt động giao dịch chứng khoán và kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật chuyên ngành chặt chẽ. Việc nắm vững các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ cũng như điều kiện thực hiện nhằm đảm bảo tính tuân thủ khi tham gia vào nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là vô cùng quan trọng.
Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán
Khái niệm về đại diện giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài
Theo quy định tại khoản 4 Điều 138 Nghị định 155/2020/NĐ-CP, đại diện giao dịch là cá nhân tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý theo quy định, được nhà đầu tư nước ngoài ủy quyền để thực hiện các công việc sau:
- Thực hiện các giao dịch và hoạt động đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Thực hiện công bố thông tin theo quy định.
- Thực hiện báo cáo với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo đúng trình tự pháp luật Việt Nam.
Nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Dựa trên các văn bản pháp luật hiện hành, nhà đầu tư nước ngoài và các bên liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ sau:
- Đảm bảo tính trung thực trong giao dịch: Nhà đầu tư nước ngoài và đại diện giao dịch phải đảm bảo các giao dịch đầu tư (bao gồm cả giao dịch của người có liên quan hoặc nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan) không nhằm mục đích tạo ra cung, cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán hoặc thực hiện các hành vi bị cấm khác theo quy định pháp luật.
- Nghĩa vụ về thuế và phí: Nhà đầu tư nước ngoài cũng như tổ chức phát hành chứng chỉ lưu ký tại nước ngoài có trách nhiệm kê khai, nộp và quyết toán đầy đủ các loại thuế, phí, lệ phí và giá dịch vụ phát sinh từ hoạt động chứng khoán tại Việt Nam.
- Nghĩa vụ công bố thông tin: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 51/2021/TT-BTC, nhà đầu tư nước ngoài và nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo sở hữu và công bố thông tin về các giao dịch chứng khoán theo đúng nguyên tắc quy định tại pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
Trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư nước ngoài
Khi thực hiện giao dịch thay cho nhà đầu tư nước ngoài, đại diện giao dịch phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về chứng khoán và các pháp luật liên quan khác.
- Thực hiện chính xác theo chỉ thị giao dịch và thanh toán từ nhà đầu tư nước ngoài. Người đại diện không được tự ý đưa ra các quyết định đầu tư (như lựa chọn loại chứng khoán, số lượng, mức giá, thời điểm giao dịch) khi chưa nhận được lệnh hoặc chỉ thị cụ thể từ phía nhà đầu tư.
Kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài
Phạm vi hoạt động kinh doanh
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, nhà đầu tư nước ngoài được phép thực hiện các hình thức kinh doanh bất động sản sau đây:
- Thuê nhà và công trình xây dựng để thực hiện việc cho thuê lại.
- Đối với diện tích đất được Nhà nước cho thuê, nhà đầu tư được phép đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; hoặc đầu tư xây trúc nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua.
- Thực hiện nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản từ chủ đầu tư khác để triển khai xây dựng nhà, công trình xây dựng nhằm mục đích bán, cho thuê hoặc cho thuê mua.
- Đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua đối với các diện tích đất được Nhà nước giao.
Điều kiện để thực hiện kinh doanh bất động sản
Để có thể hoạt động trong lĩnh vực này, nhà đầu tư cần đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Kinh doanh bất động sản 2014, cụ thể:
- Về hình thức pháp lý: Nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Về vốn điều lệ: Trước đây, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thường phải đáp ứng mức vốn pháp định từ 20 tỷ đồng trở lên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kể từ ngày 01/01/2021, quy định về việc bắt buộc đăng ký vốn pháp định từ 20 tỷ đồng trở lên đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đã có sự thay đổi theo hướng giảm bớt áp lực thủ tục, dù nhà đầu tư vẫn phải tự chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của số vốn này.