KSND TP Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Hồng A; về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 140, điểm g, p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng A từ 15 đến 20 tháng tù

Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc xác định hành vi khách quan và ý chí chủ quan của người phạm tội là yếu tố then chốt để áp dụng khung hình phạt chính xác. Bản án số 42/2017/HSST cung cấp một tình huống điển hình về việc lợi dụng lòng tin trong giao dịch dân sự (mượn tài sản) để thực hiện hành vi chiếm đoạt, qua đó làm rõ ranh giới giữa quan hệ dân sự và tội phạm hình sự. Nội dung dưới đây sẽ tóm tắt bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản này dưới góc độ pháp lý.
Sự việc xảy ra vào khoảng 18 giờ ngày 27/03/2017, liên quan đến hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng A và đồng phạm Nguyễn Duy H. Diễn biến cụ thể như sau:
Tại giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân TP Quảng Ngãi đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hồng A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm dụng tài sản”. Căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm, cơ quan chức năng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xem xét hình phạt.
Qua quá trình xét xử, Tòa án đã đưa ra các nhận định pháp lý quan trọng đối với từng đối tượng liên quan trong vụ án này:
Tòa án xác định hành vi của Nguyễn Hồng A đủ yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc bị cáo lợi dụng việc được chủ sở hữu tin tưởng giao xe máy, sau đó dùng thủ đoạn gian dối để không trả lại và đem bán tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền thu được là hành vi vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng.
Đáng chú ý, về nhân thân của bị cáo, vào ngày 24/01/2017, bị cáo vừa chấp hành xong một án phạt khác nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, khi xem xét chế tài xử lý tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Tòa án đã phải áp dụng khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự 2015 (với tình tiết tăng nặng về việc tái phạm hoặc phạm tội khi chưa được xóa án tích).
Tại thời điểm xét xử, do bị cáo Nguyễn Duy H không có mặt tại địa phương, cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh cần thiết. Tòa án quyết định tách hành vi của H để xử lý theo trình tự hành chính nhằm đảm bảo tính khách quan và đúng quy định tố tụng.
Liên quan đến người mua xe, Tòa án nhận định đối với anh Đặng C: Khi thực hiện giao dịch mua chiếc xe máy biển kiểm soát 76V3-13XX từ bị cáo A, anh C hoàn toàn không biết đây là tài sản do hành vi phạm tội mà có. Do thiếu yếu tố lỗi cố ý trong việc tiếp nhận tài sản do phạm tội mà có, nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân này.
Dựa trên diễn biến vụ án và các tình tiết về nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử đã xem xét các quy định sau của Bộ luật Hình sự:
Vụ án là bài học cảnh giác cho các giao dịch dân sự về việc quản lý tài sản khi cho mượn hoặc thuê, đồng thời khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật trong việc xử lý các hành vi lợi dụng lòng tin để trục lợi bất chính.