Tóm tắt nội dung bản án, nhận định của tòa án về bản án số 04/2019/HS-ST về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Vụ việc bắt đầu từ mối quan hệ quen biết giữa Lưu VT và chị NH. Vào khoảng 07 giờ 00 ngày 21/7/2016, bị cáo Lưu VT đã đến nhà chị NH để mượn một chiếc xe môtô hiệu YAMAHA (loại Nouvo, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 81B1-xxx) với mục đích đi chơi và được chị NH đồng ý cho mượn.
Tuy nhiên, sau khi nhận được tài sản, Lưu VT đã nảy sinh ý định bán chiếc xe môtô nêu trên để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Mặc dù bị cáo có trao đổi về ý định này với anh S (người đi cùng), nhưng trước sự ngăn cản của anh S, bị cáo vẫn quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt. Cụ thể, vào khoảng 11 giờ 00 cùng ngày, Lưu VT đã điều khiển xe chở theo anh S đến một tiệm sửa chữa xe Honda của anh Nguyễn VP. Tại đây, bị cáo đã dắt xe vào tiệm và thỏa thuận bán chiếc xe môtô cho anh P với giá 4.000.000 đồng.
Sau khi hoàn tất giao dịch, Lưu VT tự mình chiếm giữ toàn bộ số tiền bán xe để sử dụng vào mục đích cá nhân mà không trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Tiếp đó, chiếc xe đã được anh P bán lại cho anh Trần VĐ với giá 5.200.000 đồng. Sau một thời gian, đến ngày 29/3/2017, anh Đ (người đang giữ xe) đã tự nguyện giao nộp chiếc xe môtô này cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã AP để phục vụ công tác xử lý.
Qua quá trình xem xét các chứng cứ và diễn biến khách quan, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lưu VT đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã AP, tỉnh GL. Hành vi của bị cáo là đúng người, đúng tội.
Về khung pháp lý áp dụng, xét thấy hành vi phạm tội của Lưu VT xảy ra vào ngày 21/7/2016, thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiệu lực thi hành. Do đó, Tòa án áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử cũng nhấn mạnh tính chất nghiêm trọng của hành vi: Mặc dù đã được người đi cùng là anh S ngăn cản, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện việc bán tài sản để chiếm đoạt tiền. Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra, mặc dù đã được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo không chấp hành mà bỏ trốn khỏi địa phương. Tuy nhiên, xét thấy người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Tòa án quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm một phần hình phạt.
Đáng lưu ý, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lưu VT là người dưới 18 tuổi (cụ thể là 16 tuổi 01 tháng 05 ngày). Vì vậy, việc xử lý đối với bị cáo phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại các Điều 90, Điều 91, Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào diễn biến vụ án và các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm xét xử, Tòa án quyết định:
Vụ án này là một ví dụ điển hình để các cá nhân khi thực hiện việc cho mượn hoặc giao kết hợp đồng dân sự cần lưu ý về chế tài xử lý tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhằm có biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Việc hiểu rõ các tình tiết cấu thành tội phạm sẽ giúp người dân cảnh giác hơn trước các hành vi trục lợi từ sự tin tưởng trong các giao dịch dân sự.