Chế tài xử lý tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy địnhn như thế nào ? Hãy tham khảo ngay bài viết dưới đây của Legalzone
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ cùng xu thế toàn cầu hóa, các giao dịch dân sự và kinh doanh thương mại ngày càng trở nên đa dạng. Sự gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp của các hợp đồng đòi hỏi việc nhận diện chính xác giữa quan hệ dân sự thuần túy và hành vi phạm tội để áp dụng pháp luật một cách khách quan. Việc hiểu rõ các quy định về chế tài xử phạt tội chiếm đoạt tài sản là vô cùng cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi thông qua việc vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng hợp pháp, sau đó người phạm tội thực hiện các thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản đó. Ngoài ra, trường hợp sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không có khả năng hoàn trả tài sản cũng cấu thành tội phạm này.
Về mặt lịch sử lập pháp, tội danh này từng được quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hợp nhất từ các quy định về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân và xã hội chủ nghĩa trong các thời kỳ trước đó). Tuy nhiên, phải đến khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, các quy định về tội danh này mới được cụ thể hóa một cách chặt chẽ hơn.
Căn cứ vào Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), khung hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân hóa dựa trên giá trị tài sản và tính chất hành vi như sau:
Áp dụng đối với người thực hiện một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; hoặc tài sản dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp:
Áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
Áp dụng khi phạm tội thuộc các trường hợp:
Áp dụng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên.
Người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt khác như: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Để phân biệt với các tội danh khác như tội cưỡng đoạt tài sản hay các quan hệ dân sự thông thường, cần xem xét 4 dấu hiệu sau:
Người thực hiện hành vi phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật (từ đủ 16 tuổi trở lên). Đây là điểm được làm rõ trong Bộ luật Hình sự 2015 nhằm xác định chính xác đối tượng chịu trách nhiệm hình sự.
Khách thể của tội này là quan hệ sở hữu tài sản. Khác với các tội xâm phạm cả nhân thân và sở hữu (như cướp tài sản), tội lạm dụng tín nhiệm chỉ tập trung vào việc xâm phạm quyền sở hữu. Lưu ý, nếu sau khi chiếm đoạt, người phạm tội có hành vi chống trả gây thương tích hoặc chết người thì sẽ bị truy cứu trách trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng như giết người hoặc cố ý gây thương tích.
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nhằm mục đích chiếm đoạt và mong muốn đạt được kết quả đó.
Hành vi khách quan cần hội đủ các điều kiện về giá trị tài sản hoặc tiền án, tiền sự: