Án lệ số 06/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo
Án lệ số 06/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đây là một án lệ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc trong việc phân chia di sản thừa kế khi có người thuộc diện thừa kế đang cư trú tại nước ngoài nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể.
Trong vụ án tranh chấp thừa kế, nếu Tòa án đã thực hiện đầy đủ các biện pháp tố tụng như ủy thác tư pháp và thu thập chứng cứ theo đúng quy định nhưng vẫn không thể xác định được địa chỉ của những người thừa kế ở nước ngoài, thì Tòa án vẫn có cơ sở để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nếu đã xác định được di sản thừa kế, hàng thừa kế và người để lại di sản không để lại di chúc, Tòa án sẽ tiến hành chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Đối với phần tài sản thuộc về những người vắng mặt hoặc không rõ địa chỉ, Tòa án sẽ giao cho những người đang cư trú trong nước quản lý nhằm đảm bảo quyền lợi cho các thừa kế này khi họ trở về hoặc khi xác định được địa chỉ.
Tại thời điểm giải quyết vụ án, các quy định pháp luật áp dụng bao gồm:
Vụ án xoay quanh tranh chấp di sản là căn nhà số 66 phố Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (diện tích 123m2) do cụ Vũ Đình Quảng và cụ Nguyễn Thị Thênh để lại. Gia đình có 06 người con, trong đó có 03 người đã xuất cảnh đi nước ngoài gồm ông Đường, bà Cẩm và bà Thảo.
Nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ. Ông Hưng cho rằng sau khi cụ Thênh mất (năm 1987), các bị đơn là bà Tiến và bà Hậu đã tự ý bán phần nhà được tạm phân chia trước đó cho người khác (bà Oanh và bà Linh) mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế đang ở nước ngoài. Để củng cố yêu cầu, ông Hưng đã xuất trình các bản photocopy giấy ủy quyền và "Giấy chuyển hẳn quyền thừa kế" từ các anh chị em ở nước ngoài cho ông quản lý và hưởng di sản để thờ cúng tổ tiên.
Phía bị đơn (bà Tiến, bà Hậu) lập luận rằng việc mua bán nhà đã được thực hiện theo quy định của Nhà nước tại thời điểm đó và các thành viên ở nước ngoài cũng đã biết nhưng không có ý kiến phản đối. Trong khi đó, những người mua nhà (bà Oanh, bà Linh) yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán vì họ đã thanh toán đủ tiền và đang cư trú ổn định tại đó.
Quá trình giải quyết vụ án kéo dài qua nhiều cấp xét xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm. Tại bản án sơ thẩm năm 1996, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu của ông Hưng, ghi nhận sự tự nguyện nhường kỷ phần của các anh chị ở nước ngoài cho ông Hưng và tuyên bố việc mua bán nhà giữa bà Tiến, bà Hậu với bên thứ ba là trái pháp luật. Tuy nhiên, vụ án còn gặp nhiều khó khăn về mặt thủ tục tố tụng liên quan đến tư cách đại diện khởi kiện và việc xác minh các văn bản từ nước ngoài.
Vụ án này cũng cho thấy sự phức tạp trong việc xử lý tài sản khi có yếu tố nước ngoài, tương tự như những rủi ro pháp lý thường gặp khi đã trả tiền mua đất nhưng bị lật lọng vì không có văn bản mua bán. Việc áp dụng án lệ số 06 giúp tháo gỡ nút thắt về mặt tố tụng, tránh tình trạng vụ án bị đình trệ kéo dài do không thể tìm thấy địa chỉ của đương sự ở nước ngoài.
Trong các giao dịch dân sự liên quan đến nhà đất và thừa kế, việc xác định rõ quyền lợi của các bên là yếu tố tiên quyết. Đặc biệt đối với các loại hình bất động sản đặc thù như các hình thức phát triển nhà ở xã hội và yêu cầu đối với các dự án, tính minh bạch về chủ sở hữu và hàng thừa kế luôn là trọng tâm pháp lý cần được xem xét kỹ lưỡng.