Quy định về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm tạo hình, mỹ thuật công nghiệp được quy định cụ thể như thế nào? Hãy theo dõi bài viết dưới đây

Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng đang diễn ra phức tạp. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại về lợi ích kinh tế mà còn làm hạn chế động lực sáng tạo, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kho tàng văn hóa, nghệ thuật của quốc gia. Để bảo vệ thành quả lao động trí tuệ, các tác giả cần nắm vững các quy định pháp luật hiện hành nhằm tự thiết lập cơ chế bảo vệ hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tổ chức quản lý quyền chuyên nghiệp.
Dưới góc độ pháp lý, việc xác định đúng loại hình tác phẩm là bước đầu tiên để áp dụng các cơ chế bảo hộ tương ứng. Cụ thể:
Căn cứ Điều 3 Nghị định số 113/2013/NĐ-CP về hoạt động mỹ thuật, tác phẩm mỹ thuật là loại hình tác phẩm được thể hiện thông qua các yếu tố như đường nét, màu sắc, hình khối và bố cục. Các hình thức phổ biến bao gồm:
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 85/2011/NĐ-CP), tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là loại hình tác phẩm được thể hiện bằng đường nét, màu sắc, hình khối và bố cục nhưng mang tính năng hữu ích. Đặc điểm của loại hình này là có thể gắn liền với một đồ vật cụ thể và được sản xuất hàng loạt bằng phương pháp thủ công hoặc máy móc, ví dụ như: biểu trưng (logo), các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, hoặc các họa tiết trang trí trên bao bì sản phẩm.
Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ bổ sung năm 2009), các loại hình tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng đều thuộc nhóm tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được pháp luật bảo hộ.
Về căn cứ xác lập quyền, tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí nghiệm quy định rằng: Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Việc bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện hay ngôn ngữ, cũng như không phân biệt tác phẩm đã được công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Tuy nhiên, việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký quyền tác giả vẫn là một biện pháp quan trọng để tạo lập chứng cứ pháp lý vững chắc khi có tranh chấp xảy ra.
Chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các nhóm quyền cốt lõi sau:
Bao gồm các quyền gắn liền với tên tuổi của tác giả như: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng; cho phép hoặc không cho phép người khác công bố tác phẩm; và đặc biệt là quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, ngăn chặn các hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả.
Bao gồm các quyền khai thác giá trị kinh tế từ tác phẩm như: sao chép tác phẩm; làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; cũng như truyền đạt tác phẩm đến công chúng. Trong quá trình thương mại hóa, nếu có sự chuyển giao quyềns, các bên cần lưu ý về thuế nhà thầu với hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp để đảm bảo nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước.
Pháp luật quy định nghiêm cấm các hành vi xâm phạm quyền tác giả, bao gồm nhưng không giới hạn ở các trường hợp sau:
Để xử lý các hành vi này, tác giả cần thu thập đầy đủ chứng cứ. Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng kết quả thẩm định hình thức đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc các phiếu giám định vi phạm từ Viện Khoa học Sở hữu trí quyết là căn cứ quan trọng để các cơ quan chức năng tiến hành xử lý vi phạm theo đúng quy định pháp luật.