quy định việc xác định lại dân tộc của một người từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi. thủ tục xác định lại dân tộc cho con nuôi
Trong thực tế đời sống, việc nhận nuôi con nuôi ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam. Sau khi hoàn tất các thủ tục đăng ký nhận con nuôi, nhiều cha mẹ nuôi có nhu cầu thay đổi dân tộc cho con trong trường hợp dân tộc ghi trên Giấy khai sinh của trẻ khác với dân tộc của cha mẹ nuôi. Tuy nhiên, họ tên và dân tộc là những đặc điểm nhân thân cơ bản, mang tính ổn định cao nhằm thể hiện nguồn gốc và huyết thống của mỗi cá nhân. Do đó, việc thay đổi các thông tin này chỉ được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015, dân tộc của một cá nhân về nguyên tắc chỉ có thể được xác định dựa trên dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ. Pháp luật không mặc nhiên cho phép việc thay đổi dân tộc từ dân tộc của cha mẹ đẻ sang dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi nhằm tránh tình trạng lợi dụng việc thay đổi này để trục lợi các chính để ưu đãi, chính sách của Nhà nước.
Tuy nhiên, pháp luật có quy định ngoại lệ dành cho trường hợp trẻ em bị bỏ rơi. Cụ thể, tại Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 về việc xác định lại dân tộc đã nêu rõ:
Như vậy, việc thay đổi họ, tên, xác định lại dân tộc cho con nuôi chỉ được pháp luật công nhận khi trẻ em đó thuộc trường hợp bị bỏ rơi và chưa xác định được nguồn gốc cha mẹ đẻ.
Thủ tục này được thực hiện dựa trên các quy định về đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch. Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch 2014, khi yêu cầu xác định lại dân tộc, người thực hiện phải có giấy tờ làm căn cứ chứng minh theo quy định và trình tự được áp dụng tương tự như thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch tại Điều 28 Luật Hộ tịch.
Để quá trình giải quyết diễn ra thuận lợi, khi thực hiện các thủ tục nhận con nuôi và xác định lại dân tộc, người yêu cầu cần chuẩn bị:
Căn cứ Khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch, thẩm quyền giải quyết việc xác định lại dân tộc thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân (đối với công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước).
Quy trình xử lý tại cơ quan có thẩm quyền như sau: