nhận con nuôi ở đâu / Tư vấn và hỗ trợ về thủ tục, điều kiện nhận nuôi con nuôi theo quy định pháp luật nuôi con nuôi mới nhất

Nhận con nuôi ở đâu là câu hỏi cần xác định theo từng trường hợp: nhận con nuôi trong nước, có yếu tố nước ngoài, trẻ bị bỏ rơi, trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng hoặc công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài. Bài viết này tóm tắt thẩm quyền đăng ký, điều kiện và hồ sơ theo bối cảnh pháp luật năm 2020, trên cơ sở Luật Nuôi con nuôi 2010, Nghị định 19/2011/NĐ-CP và nội dung sửa đổi bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP.
Theo Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010 và quy định hướng dẫn, cơ quan đăng ký việc nuôi con nuôi phụ thuộc vào loại việc nuôi con nuôi:
Vì vậy, nếu là việc nhận con nuôi trong nước thông thường, người nhận con nuôi thường nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền. Trường hợp có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyền chuyển lên cấp tỉnh và Sở Tư pháp.
Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; và có tư cách đạo đức tốt.
Một số trường hợp không được nhận con nuôi gồm: đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; hoặc chưa được xóa án tích về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, ngược đãi, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em và các tội liên quan.
Riêng trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện hơn con nuôi 20 tuổi và điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở.
Theo Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010, người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ được nhận làm con nuôi nếu được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
Hồ sơ của người nhận con nuôi trong nước theo Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010 thường gồm:
Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi theo Điều 18 gồm giấy khai sinh, giấy khám sức khỏe, hai ảnh toàn thân chụp không quá 06 tháng và các giấy tờ chứng minh tình trạng của trẻ như biên bản xác nhận trẻ bị bỏ rơi, giấy chứng tử của cha mẹ, quyết định của Tòa án hoặc quyết định tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng nếu có.
Người nhận con nuôi nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên quan. Việc nhận con nuôi phải có sự đồng ý tự nguyện, trung thực của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ; nếu trẻ từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải có sự đồng ý của trẻ. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.
Khi đủ điều kiện, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch. Nếu từ chối đăng ký, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.