Legalzone xin gửi đến bạn đọc tóm tắt bản án về tội trộm cắp tài sản, Bản án 33/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

Trong hoạt động tư pháp, việc nghiên cứu các bản án đã có hiệu lực pháp luật giúp người dân hiểu rõ hơn về hành vi vi phạm và trách nhiệm hình sự tương ứng. Dưới đây là nội dung tóm tắt Bản án số 33/2017/HSST ngày 18/07/2017 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Yên liên quan đến tội trộm cắp tài sản.
Vào khoảng 14 giờ ngày 20/3/2017, đối tượng Đỗ Văn H đi bộ đến nhà anh Đỗ Văn H2 (cùng thôn) với mục đích mượn xe máy. Tại thời điểm này, do thấy nhà anh H2 không có người ở nhà, H đã tự ý lấy một chiếc chìa khóa xe máy hiệu HONDA Wave S đang để trên nóc tủ rồi ra về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đến tham dự tiệc cưới tại gia đình anh Nguyễn Văn Thoại trong cùng thôn.
Sau khi kết thúc bữa tiệc vào khoảng 18 giờ cùng ngày, trong lúc ngồi lên yên xe mô tô biển kiểm soát 2 trình 29S1-340.76 của anh Nguyễn Văn T để nghe điện thoại, H phát hiện chiếc chìa khóa xe máy lấy được từ nhà anh H2 trước đó vẫn còn trong túi quần. Nhận thấy khu vực để xe tại đám cưới không có người trông giữ, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô này để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài.
H đã sử dụng chiếc chìa khóa vừa có được để mở ổ khóa điện, nổ máy và điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Trọng Đ tại xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, H thực hiện việc cầm cố chiếc xe lấy số tiền 4.500.000 đồng, sau đó viết giấy vay nợ giao cho anh Đ giữ rồi rời đi. Hành vi này sau đó đã bị phát hiện và cơ quan chức năng tiến hành thu giữ tang vật.
Hành vi này có nhiều điểm tương đồng với các vụ việc được phân tích trong tóm tắt bản án về tội trộm cắp tài sản khác, nơi đối tượng lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Tại quá trình xét xử, bị cáo Đỗ Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo khai rằng do lợi dụng sơ hở của gia đình anh Nguyễn Văn Thoại trong lúc tổ chức đám cưới, không có người trông giữ phương tiện nên đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA (BKS: 29S1-340.76) với trị giá tài sản là 8.000.000 đồng nhằm mục đích cầm cố lấy tiền.
Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được tại cơ quan điều tra và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của Đỗ Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Việc xác định tội danh và hình phạt đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội và phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm xét xử, không có tình trạng oan sai.
Trong thực tế, các vụ án liên quan đến phương tiện giao động rất phức tạp, điển hình như bản án về tội trộm cắp tài sản - xe máy thường có tính chất lặp lại và gây mất an ninh trật tự địa phương.
Dựa trên các tình tiết của vụ án, cơ quan xét xử đã áp dụng các quy định pháp luật sau đây để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Việc nghiên cứu kỹ các tóm tắt bản án về phạm tội trộm cắp tài sản giúp chúng ta có cái nhìn thấu đáo hơn về ranh giới giữa hành vi chiếm giữ trái phép và hành vi trộm cắp có tổ chức hoặc lợi dụng sơ hở.