Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng quyền
Thừa kế đất đai theo di chúc là cách thức phổ biến để cá nhân định đoạt quyền sử dụng đất của mình cho người thừa kế. Tính đến năm 2019, việc thừa kế quyền sử dụng đất được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Đất đai 2013. Bài viết làm rõ khi nào quyền sử dụng đất được xác định là di sản và thủ tục thừa kế theo di chúc cũng như theo pháp luật.
Một trong những tài sản có giá trị mà người chết để lại là quyền sử dụng đất. Việc xác định quyền sử dụng đất có phải là di sản hay không phụ thuộc vào giấy tờ về đất:
Cụ thể, nếu UBND có văn bản xác nhận việc sử dụng đất là hợp pháp, Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản gồm cả tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất. Nếu việc sử dụng đất không vi phạm quy hoạch thì có thể được xem xét giao quyền sử dụng đất. Nếu UBND xác định việc sử dụng đất là không hợp pháp thì Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp tài sản trên đất.
Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận: cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Di chúc là công cụ phổ biến để định đoạt quyền sử dụng đất.
Hồ sơ khai nhận di sản thừa kế là đất đai theo di chúc thường gồm:
Theo quy định của pháp luật dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống. Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 xác định quyền thừa kế của cá nhân. Khi không có di chúc, di sản được chia theo pháp luật theo thứ tự hàng thừa kế:
Việc thừa hưởng di sản bắt đầu từ hàng thừa kế thứ nhất; nếu hàng thừa kế thứ nhất từ chối hoặc không còn ai vào thời điểm mở thừa kế thì xét đến những hàng tiếp theo.
Để nắm tổng quan các quy định nền tảng, bạn có thể tham khảo bài Luật thừa kế đất đai và những điều cần biết, cũng như bài Quy định về thừa kế đất đai không có di chúc.