Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi đối với chủ thể không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng hoặc theo quy định

Trong các quan hệ dân sự và thương mại, hợp đồng được coi là "luật của các bên". Khi một chủ thể không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã thỏa thuận, họ phải chịu trách nhiệm pháp lý (hay còn gọi là chế tài dân sự/trách nhiệm dân sự). Trách nhiệm này là hậu quả bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu tương ứng với mức độ thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho đối tác.
Để xác định một bên có đang vi phạm nghĩa vụ hay không, cần căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm phát sinh tranh chấp. Cụ thể:
Như vậy, dù trong quan hệ dân sự hay thương mại, việc không tuân thủ các điều khoản về thời gian, chất lượng, số lượng hoặc phương thức thực hiện đều cấu thành hành vi vi phạm. Điều này đặc biệt quan trọng khi các bên xem xét đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự để xác lập quyền và nghĩa vụ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các sai sót như chậm giao hàng, thiếu số lượng, không đúng quy cách kỹ thuật hoặc chất lượng hàng hóa là điều khó tránh khỏi. Khi đó, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải khắc phục tình trạng này bằng cách giao đủ hàng, đúng chất lượng hoặc thay thế hàng hóa khuyết tật.
Căn cứ pháp luật: Theo khoản 1 Điều 358 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện; hoặc tự mình (hoặc giao người khác) thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý cùng bồi thường thiệt hại phát sinh.
Phạt vi phạm là hình thức chế tài mà bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm nộp một khoản tiền phạt theo thỏa thuận trước đó trong hợp đồng. Đây là biện pháp nhằm răn đe và tạo áp lực kinh tế lên bên có hành vi vi phạm.
Căn cứ pháp luật: Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, mức phạt vi phạm do các bên tự thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Các bên có thể thỏa thuận chỉ chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại, hoặc vừa chịu phạt vừa phải bồi thường. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ thỏa thuận về phạt vi phạm mà không nói rõ việc có kèm theo bồi thường hay không, thì bên vi phạm sẽ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Lưu ý về mức phạt trong thương mại: Đối với các hợp đồng kinh doanh, thương mại, mức phạt vi phạm hoặc tổng mức phạt cho nhiều vi phạm không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (theo quy định của Luật Thương mại).
Khác với phạt vi phạm (dựa trên thỏa thuận), bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế xảy ra. Để yêu cầu bồi thường, bên bị vi phạm phải chứng minh được đầy đủ 03 yếu tố: (i) Có hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (iii) Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại.
Căn cứ pháp luật: Theo Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại được bồi thường bao gồm các tổn thất về vật chất và lợi ích lẽ ra sẽ được hưởng nếu không có vi phạm. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường cho lợi ích bị mất đi hoặc chi phí phát sinh để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể buộc bên vi phạm phải báp bồi thường thiệt hại về tinh thần dựa trên nội dung vụ việc.
Nguyên tắc bồi thường là bù đắp toàn bộ và kịp thời tổn thất. Tuy nhiên, bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm nếu chứng minh được việc không thực hiện được nghĩa vụ hoàn toàn do lỗi của chính bên có quyền (theo khoản 3 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015). Việc xác định đúng mức độ thiệt hại là cực kỳ quan trọng để tránh các rủi ro pháp lý khi ký hợp đồng uỷ thác đầu tư hoặc các loại hợp đồng kinh tế khác.
Đây là các biện pháp nhằm chấm dứt hoặc tạm dừng trạng thái thực hiện nghĩa vụ của các bên:
Việc lựa chọn biện pháp nào phụ thuộc vào tính chất vi phạm và mục đích của bên bị vi phạm, nhằm bảo vệ tối đa lợi ích hợp pháp trong các giao dịch như hợp đồng ủy thác đầu tư hoặc các loại hợp đồng cung ứng dịch vụ khác.