Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật được thể hiện như thế nào ? Hãy tham khảo bài viết sau của Legalzone

Trong đời sống xã hội, các quan hệ như mua bán, trao đổi tài sản, thừa kế hay tặng cho... đều được hình thành dựa trên các giao dịch dân sự. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, việc hiểu rõ các điều kiện để một giao dịch có hiệu lực pháp luật là vô cùng quan trọng. Bài viết này sẽ phân tích các quy định về điều kiện có hiệu lập của giao dịch dân sự theo Bộ luật Dân sự 2015.
Giao dịch dân sự được hiểu là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự. Cụ thể:
Trong thực tế, hợp đồng là hình thức phổ biến nhất của giao dịch dân sự. Để một giao dịch được pháp luật công nhận và bảo vệ, chủ thể cần phải nắm vững những điều kiện cần khi giao dịch dân sự diễn ra.
Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, một giao dịch dân sự được coi là có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Khi xem xét sự chuyển biến pháp lý, mặc dù các điều kiện cơ bản về tính tự nguyện, nội dung và hình thức vẫn được duy trì, nhưng Bộ luật Dân sự 2015 đã có những bước tiến quan trọng so với Điều 122 của Bộ luật Dân sự 2005.
Điểm mới nổi bật nhất nằm ở cách tiếp cận về năng lực của chủ thể. Nếu như Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định chung là "Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự", thì Bộ luật Dân sự 2015 đã cụ thể hóa thành: "Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập".
Việc bổ sung thêm yếu tố "năng lực pháp luật dân sự" giúp quy định trở nên chặt chẽ hơn. Bởi lẽ, tùy vào từng loại giao dịch mà yêu cầu về năng lực pháp luật và năng lực hành vi sẽ khác nhau. Ví dụ, đối với giao dịch dân sự do người chưa thành niên thực hiện, pháp luật sẽ có những điều chỉnh đặc thù để bảo vệ quyền lợi của đối tượng này.
Dưới góc độ pháp lý, năng lực hành vi dân sự của một cá nhân thường được chia thành ba nhóm chính:
Khi một giao dịch dân sự thiếu một trong các điều kiện nêu trên, giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu. Tùy vào tính chất vi phạm, chúng ta phân chia thành hai loại chính:
Việc xác định một giao dịch là vô hiệu hay không có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh, cũng như việc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.