Những giao dịch nào bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật ? Hãy tham khảo ngay bài viết dưới đây của Legalzone

Trong đời sống pháp lý, giao dịch dân sự đóng vai trò là nền tảng để thiết lập các quan hệ về tài sản và nhân thân. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xác lập ý chí đều được pháp luật công nhận hiệu lực. Một giao dịch chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhất định; nếu vi phạm các quy định bắt buộc, giao dịch đó sẽ bị tuyên bố vô hiệu.
Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được hiểu là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, kết quả của việc xác lập một giao dịch chính là tạo ra các hậu quả pháp lý đối với chủ thể tham gia, có thể là hình thành mới, biến đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật.
Để đảm bảo tính an toàn và trật tự xã hội, các bên cần nắm rõ những điều kiện cần khi giao dịch dân sự được xác lập bao gồm:
Dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự 2015, một giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu trong các trường hợp cụ thể sau đây:
Căn cứ Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có mục đích hoặc nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội sẽ bị vô hiệu. Trong đó:
Khi giao dịch vi phạm các quy định này, nó đương nhiên vô hiệu mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Tài sản liên quan có thể bị tịch thu hoặc sung quỹ nhà nước tùy theo tính chất vụ việc.
Theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, khi các bên xác lập giao dịch một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo sẽ bị vô hiệu. Tuy nhiên, giao dịch bị che giấu vẫn có thể có hiệu lực nếu không vi phạm quy định pháp luật khác. Ngoài ra, trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (ví dụ: tặng cho tài sản để tẩu tán tài sản nhằm trốn nợ) cũng sẽ bị tuyên bố vô nhiễm vô hiệu.
Căn cứ Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, mặc dù các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức giao dịch, nhưng nếu pháp luật bắt buộc phải lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký mà các bên không tuân thủ thì giao dịch có nguy cơ bị vô hiệu. Tuy nhiên, pháp luật vẫn có cơ chế bảo vệ nếu một bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, Tòa án có thể xem xét công nhận hiệu lực của giao dịch đó để đảm bảo quyền lợi hợp pháp.
Theo Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, các giao dịch do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của người đại diện, trừ một số trường hợp đặc biệt như:
Trong trường hợp liên quan đến giao dịch dân sự do người chưa thành niên thực hiện, việc xác định năng lực hành vi là yếu tố then chốt để đánh giá tính pháp lý của hợp đồng.
Căn cứ Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015, nếu việc xác lập giao dịch có sự nhầm lẫn dẫn đến việc các bên không đạt được mục đích ban đầu, bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, nếu sự nhầm lẫn đó không làm ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng hoặc các bên có thể khắc phục ngay để đạt được mục đích thì giao dịch vẫn được duy trì hiệu lực.
Khi một giao dịch bị tuyên bố vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Việc xác định tính vô hiệu của giao dịch là cực kỳ quan trọng để bảo vệ bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, nhằm đảm bảo sự ổn định của các quan hệ lưu thông tài sản trong xã hội.