Nếu chủ nợ dùng vũ lực để đòi tiền sẽ phạm tội "cướp tài sản"; trường hợp uy hiếp, đe doạ để siết nợ thì là "cưỡng đoạt tài sản".
Vay nợ là giao dịch dân sự phổ biến trong đời sống. Tuy nhiên, không ít chủ nợ vì muốn đòi tiền nhanh đã tự ý siết nợ trái pháp luật bằng cách giữ tài sản, đe dọa hoặc dùng vũ lực. Vậy chủ nợ có quyền giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ không, và hành vi này có thể bị xử lý hình sự ra sao?
Bên cạnh hợp đồng vay, nghĩa vụ trả nợ còn có thể phát sinh từ các giao dịch như mượn tài sản hay mua bán tài sản nhưng không thanh toán đủ khi đến hạn. Khi con nợ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hai bên có thể thỏa thuận hướng giải quyết như gia hạn, miễn, giảm lãi.
Trường hợp không thương lượng được, chủ nợ có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Người khởi kiện có thể yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên, phong tỏa tài sản của con nợ để tránh tẩu tán tài sản, bảo đảm thi hành án về sau, cùng các biện pháp khác mà pháp luật không cấm. Việc tự ý giữ hoặc lấy tài sản của con nợ để siết nợ là hành vi không được pháp luật cho phép.
Trên thực tế, nhiều chủ nợ do nhận thức hạn chế hoặc cố ý đã có hành vi đòi nợ trái pháp luật như đổ chất bẩn, gây rối trật tự công cộng tại khu vực nhà con nợ, hoặc tự ý lấy tài sản mang đi để siết nợ. Tùy theo tính chất, hành vi siết nợ có thể cấu thành một trong các tội theo Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (Bộ luật Hình sự 2015).
Trường hợp chủ nợ (hoặc người được ủy quyền) dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc có hành vi khác khiến người bị tấn công không thể chống cự được — như đấm, đá, dùng hung khí khống chế — nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015. Mức hình phạt cao nhất của tội này lên đến tù chung thân.
Trường hợp chủ nợ đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần con nợ (chẳng hạn kéo nhiều người đến để thị uy) nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015. Mức hình phạt cao nhất của tội này lên đến 20 năm tù.
Với cả hai hành vi nêu trên, pháp luật không đòi hỏi tài sản bị chiếm đoạt phải đạt giá trị tối thiểu mới cấu thành tội phạm. Về nguyên tắc, chỉ cần có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa sẽ dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành. Việc đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là căn cứ định tội. Do đó, người dân khi đòi nợ cần lựa chọn con đường hợp pháp, tránh tự ý siết nợ dẫn đến vi phạm pháp luật hình sự.