Chỉ khi hợp đồng tồn tại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh khi có sự vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ được quy định

Trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự và thương mại, việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận là điều khó tránh khỏi. Khi đó, vấn đề bồi thường thiệt hại trở thành trọng tâm để bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các căn cứ pháp lý về trách nhiệm và cách tính mức bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ hợp đồng được hình thành dựa trên các quy phạm điều chỉnh chế định hợp đồng. Trách nhiệm này chỉ tồn tại khi có một hợp đồng hợp pháp và phát sinh ngay khi xuất hiện hành vi vi phạm một hoặc nhiều nghĩa vụ đã được các bên cam kết.
Cần lưu ý rằng, trách nhiệm dân sự có thể phát sinh ngay khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, kể cả khi thiệt hại thực tế chưa xảy ra tại thời điểm đó. Khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận. Nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì được coi là vi phạm hợp đồng. Các bên hoàn toàn có quyền dự liệu và thỏa thuận trước về các trường hợp thiệt hại cũng như phương thức xử lý, chẳng hạn như áp dụng chế tài phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại. Việc xác định trách nhiệm này đôi khi không dựa trên sự vi phạm pháp luật chung mà dựa trên việc vi phạm các "luật riêng" – tức là các nghĩa vụ tự ràng buộc giữa những người tham kết hợp đồng thông qua đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự.
Để yêu cầu một bên phải chịu trách nhiệm bồi thường, cần hội đủ các yếu tố cấu thành trách nhiệm dân sự. Theo quy định pháp luật hiện hành, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau:
Tuy nhiên, bên vi phạm có thể được miễn trách nhiệm bồi thường nếu thuộc các trường hợp như: do sự kiện bất khả kháng; do lỗi hoàn toàn của bên bị vi phạm; hoặc do các bên đã có thỏa thuận khác; hoặc do quyết định của cơ quan nhà nước mà tại thời điểm giao kết các bên không thể biết trước.
Về phạm vi thiệt hại, cần phân biệt rõ giữa quy định trong thương mại và dân sự:
Lưu ý về nghĩa vụ chứng minh: Bên bị vi phạm có nghĩa vụ chứng minh những tổn thất, thiệt hại thực tế mà mình phải chịu. Ngược lại, bên vi phạm cũng có trách nhiệm chứng minh các căn cứ để được miễn trách nhiệm bồi thường.
Vì hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ, nên mức bồi thường thiệt hại cũng mang tính chất tự nguyện theo nguyên tắc tự do hợp đồng. Có hai phương thức chính để xác định mức bồi thường:
Khi xảy ra vi phạm, về nguyên tắc, các bên sẽ ưu tiên giải quyết thông qua thương lượng. Nếu trong nội dung hợp đồng đã quy định cụ thể về các khoản bồi thường và mức bồi thường cụ thể (miễn là không trái pháp luật), thì các bên sẽ thực hiện theo đúng điều khoản đó.
Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về mức bồi thường, việc xác định sẽ dựa trên các nguyên tắc sau:
Tóm lại, cách tính mức bồi thường sẽ căn cứ vào thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng hoặc dựa trên giá trị thiệt hại thực tế phát sinh tại thời điểm xảy ra vi phạm. Việc nắm rõ các quy định này giúp các bên chủ động hơn trong việc quản trị rủi ro khi tham gia các loại hình giao dịch như hợp đồng ủy thác đầu tư hay các hợp đồng kinh tế khác.