Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là quyền lợi hợp pháp nhằm phân định rõ ràng khối tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, tránh các tranh chấp phát sinh về sau. Theo quy định pháp luật, việc này có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận tự nguyện giữa hai vợ chồng hoặc yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm phân chia tài sản chung thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và chồng mà không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Căn cứ pháp lý
Để hiểu rõ về các quy định liên quan đến việc phân chia và quản lý tài sản, cần tham khảo các văn bản sau:
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Theo Điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa dụng về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
Thành phần tài sản chung và tài sản riêng
Tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được phân định rõ ràng như sau:
- Tài sản chung: Bao gồm thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng; các tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung; và các tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đặc biệt, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn được xác định là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc hình thành từ giao dịch bằng tài sản riêng.
- Nguyên tắc xác định: Trong trường hợp không có đủ căn cứ để chứng minh một tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó mặc nhiên được coi là tài sản chung.
Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung
Pháp luật quy định các nguyên tắc bình đẳng và trách nhiệm trong việc quản lý tài sản:
- Vợ, chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung; không phân biệt lao động trong gia đình hay lao động có thu nhập.
- Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoảng tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Tuy nhiên, đối với các tài sản như bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản đang là nguồn thu nhập chính của gia đình, việc định đoạt phải được lập thành văn bản có sự đồng ý của cả hai bên.
- Về đăng ký quyền sở hữu: Đối với tài sản chung bắt buộc phải đăng ký, Giấy chứng nhận quyền sở hữu/quyền sử dụng đất phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ khi có thỏa thuận khác.
Nghĩa vụ chung về tài sản
Vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ sau:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà pháp luật quy định cả hai cùng chịu trách nhiệm.
- Nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Cách thức và hình thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Theo Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ các trường hợp đặc biệt liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba. Nếu không thể đạt được sự thống nhất, một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự.
Hình thức của thỏa thuận chia tài sản
Thỏa thuận về việc chia tài sản chung giữa vợ và chồng bắt buộc phải được lập thành văn bản. Văn bản này có thể được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên hoặc theo quy định cụ thể của pháp luật đối với từng loại tài sản nhất định.
Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản
Hiệu lực của việc chia tài sản chung được xác định tùy thuộc vào phương thức thực hiện:
- Trường hợp thỏa thuận: Có hiệu lực tại thời điểm do vợ chồng tự thỏa thuận và ghi rõ trong văn bản. Nếu không ghi rõ, thời điểm có hiệu lực tính từ ngày lập văn bản. Lưu ý, nếu tài sản đó bắt buộc phải tuân thủ hình thức pháp lý nhất định (như công chứng) thì việc chia chỉ có hiệu lực khi đã hoàn tất hình thức đó.
- Trường hợp Tòa án quyết định: Việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Cần lưu ý rằng, các quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản có hiệu lực vẫn được pháp luật bảo hộ để đảm bảo tính khách quan và tránh xâm phạm quyền lợi của bên thứ ba ngay tình.
Xem thêm các chủ đề khác