Legalzone xin gửi đến bạn đọc các thông tin hữu ích về %%title%% %%primary_category%% .

Khi bị mất hoặc hư hỏng Chứng minh nhân dân (CMND), nhiều công dân thường thắc mắc về việc có thể thực hiện thủ tục cấp lại tại nơi tạm trú hay bắt buộc phải về quê (nơi đăng ký hộ khẩu thường trú). Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các quy định pháp luật liên quan đến thẩm quyền và thủ tục cấp, đổi CMND theo khung pháp lý hiện hành.
Căn cứ Nghị định số 05/1999/NĐ-CP, Chứng minh nhân dân là loại giấy tờ tùy thân do cơ quan Công an có thẩm quyền cấp cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Loại giấy tờ này nhằm xác nhận các đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi cá nhân, phục vụ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và giao dịch trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Về cấu trúc và thời hạn sử dụng, theo Thông tư số 57/2013/TT-BCA, CMND có các đặc điểm sau:
Một trong những vấn đề quan trọng nhất là xác định thẩm quyền giải quyết khi công dân không thể về nơi đăng ký thường trú để làm thủ tục.
Theo quy định tại Điểm 5 Mục II Thông tư số 04/1999/TT-BCA(C13), công dân thuộc diện được cấp CMND hiện đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nào thì do Công an cấp huyện nơi đó thực hiện thủ tục cấp CMND.
Như vậy, về nguyên tắc pháp lý, khi bị mất hoặc hư hỏng CMND, công dân phải về nơi mình có đăng ký hộ khẩu thường trú để làm thủ tục cấp lại. Việc thực hiện tại nơi không có hộ khẩu (nơi tạm trú) không được quy định trong thẩm quyền giải quyết của Công an cấp huyện theo các văn bản hướng dẫn này.
Căn cứ Điều 5 Nghị định 05/1999/NĐ-CP, các trường hợp sau đây bắt buộc phải làm thủ tục đổi hoặc cấp lại:
Để thực hiện việc cấp lại hoặc đổi CMND, công dân cần chuẩn bị hồ sơ theo hướng dẫn tại các văn bản của Bộ Công an, bao gồm:
Thời hạn giải quyết:
Theo Điều 4 Nghị định 05/1999/NĐ-CP, một số nhóm đối tượng sau đây tạm thời chưa được cấp CMND:
Khi những đối tượng này hết thời hạn chấp hành án hoặc khỏi bệnh, họ sẽ được thực hiện thủ tục cấp CMND theo quy định.
Trong giai đoạn sau này, khi Luật Căn cước công dân 2014 có hiệu lực, mã số trên thẻ CCCD chính là mã số định danh cá nhân. Thẻ CCCD có giá trị pháp lý tương đương với CMND cũ, và công dân có thể sử dụng CMND cho đến khi hết thời hạn ghi trên thẻ hoặc thực hiện đổi sang CCCD để thuận tiện hơn trong các giao dịch dân sự.