Theo khoản 1 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp phải nộp một bộ hồ sơ trong đó phải có danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh ...

Trong hoạt động kinh doanh, việc phát sinh các khoản nợ chưa thanh toán khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động là vấn đề pháp lý phức tạp. Nhiều chủ nợ thường lo ngại rằng khi một doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể và xóa tên trên sổ đăng ký kinh doanh thì quyền đòi nợ sẽ không còn hiệu lực. Tuy nhiên, theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, pháp luật vẫn có cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ nợ trong những trường hợp cụ thể.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020, một trong những thành phần bắt buộc trong hồ sơ giải thể là danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán. Thực tế phát sinh trường hợp doanh nghiệp vẫn còn các khoản nợ chưa thanh toán nhưng lại kê khai vào danh sách là đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ để đủ điều kiện giải thể.
Để ngăn chặn hành vi gian lận, Khoản 2 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về trách nhiệm liên đới của những người quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, nếu hồ sơ giải thể không chính xác hoặc có dấu hiệu giả mạo, những cá nhân sau đây phải chịu trách nhiệm liên đới thanh toán các khoản nợ chưa trả, số thuế chưa nộp và các quyền lợi chưa được giải quyết cho người lao động:
Các cá nhân này phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh doanh. Như vậy, nếu chủ nợ chứng minh được việc kê khai thanh toán nợ là không trung thực, quyền đòi nợ vẫn tồn tại trong thời hạn 0 chế định này.
Để có cơ sở khởi kiện hoặc yêu cầu truy cứu trách nhiệm liên đới, chủ nợ cần xây dựng các chứng cứ chứng minh nghĩa vụ tài chính chưa được thực hiện. Các tài liệu quan trọng bao gồm:
Trong trường hợp xác định được doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể nhưng vẫn còn khoản nợ chưa thanh toán, bên có quyền lợi liên quan cần thực hiện các bước sau:
Nếu phát hiện dấu hiệu gian dối trong danh sách chủ nợ tại hồ sơ giải thể, chủ nợ có thể yêu cầu cơ quan chức năng xem xét lại tính trung thực của hồ sơ. Đồng thời, bên bị vi phạm có quyền khởi kiện đòi nợ kèm theo yêu cầu hủy bỏ quyết định hoặc thông báo chấp thuận giải thể của Cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư).
Nếu các khoản nghĩa vụ trả tiền vẫn chưa được xác lập rõ ràng bằng văn bản hoặc chưa có bản án/quyết định của Tòa án, chủ nợ cần thực hiện thủ tục khởi kiện đòi nợ doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Trong vụ án này, các cá nhân thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 sẽ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mục tiêu là để Tòa án xác định chính xác nghĩa vụ thanh toán và buộc những người quản lý phải chịu trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi phát sinh tranh chấp về nợ giữa chủ nợ và doanh nghiệp đã giải thể, cơ quan có thẩm quyền giải quyết cao nhất là Tòa án. Căn cứ Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán nợ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Việc phân biệt rõ giữa việc chấm dứt hoạt động tự nguyện và tình trạng mất khả năng thanh toán là rất quan trọng, chủ nợ có thể cần tìm hiểu thêm về cách so sánh phá sản và giải thể doanh nghiệp để xác định đúng đối tượng khởi kiện.
Tóm lại, việc giải thể doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc xóa bỏ hoàn toàn trách nhiệm trả nợ của các chủ thể liên quan nếu có bằng chứng về việc kê khai thiếu trung thực trong hồ sơ giải thể.