Việc sở hữu cổ phần của công ty mang lại cho cổ đông những quyền và nghĩa vụ nhất định. Có được thế chấp cổ phần để vay tiền không?
Việc sở hữu cổ phần tại công ty cổ phần mang lại cho cổ đông những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự, nhiều nhà đầu tư thường băn khoăn về việc liệu có thể sử dụng số cổ phần đang nắm giữ làm tài sản bảo đảm để vay vốn hay không. Bài viết dưới đây sẽ phân tích dựa trên các quy định pháp luật hiện hành về tính chất tài sản của cổ phần và quyền định đoạt của cổ đông.
Để xác định việc thế chấp cổ phần có hợp pháp hay không, cần xem xét dựa trên hai khía cạnh: bản chất của cổ phần dưới góc độ tài sản và quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản đó.
Theo quy định tại Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Cổ phần được thể hiện dưới dạng cổ phiếu (chứng chỉ do công ty phát hành), bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu của một hoặc một số cổ phần tại công ty. Do đó, về mặt pháp lý, cổ phần chính là một loại quyền tài sản.
Căn cứ theo Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015, vì là tài sản nên cổ phần hoàn toàn có thể trở thành đối tượng của các giao dịch bảo đảm, bao gồm thế chấp, cầm cố để phục vụ mục đích vay vốn hoặc thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác.
Cổ đông (bao gồm cá nhân và tổ chứa theo quy định tại Luật Doanh nghiệp) là chủ sở hữu đối với phần vốn góp của mình. Theo Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Việc dùng cổ phần để thế chấp chính là một hình thức thực hiện quyền định đoạt.
Căn cứ Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015, thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Như vậy, khi thực hiện thế chấp cổ phần để vay tiền, bên thế chấp vẫn giữ quyền sở hữu và các quyền liên quan khác tại công ty, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bên thế chấp không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ. Căn cứ Khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015, các phương thức xử lý bao gồm:
Việc xử lý cổ phần thế chấp về bản chất là một giao dịch chuyển nhượng vốn góp trong công ty cổ phần. Tùy vào hình thức chuyển nhượng mà trình tự thực hiện sẽ khác nhau.
1. Đối với giao dịch trên thị trường chứng khoán: Việc chuyển nhượng, ghi nhận sở hữu được thực hiện theo các quy định chuyên ngành của pháp luật về chứng khoán.
2. Đối với giao dịch trong nội bộ doanh nghiệp: Các bên tiến hành soạn thảo, ký kết hợp đồng chuyển nhượng và tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông để thông qua việc thay đổi này. Lưu ý, khi có sự thay đổi về thành viên hoặc cơ cấu sở hữu liên quan đến đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định tại Nghị định số 108/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp để thực hiện các thủ tục thông báo cần thiết.
Mặc dù cổ đông có quyền tự do định đoạt tài sản, tuy nhiên pháp luật và Điều lệ công ty có thể áp dụng một số hạn chế nhất định nhằm bảo vệ lợi ích của các thành viên khác. Nếu việc xử lý tài sản thế chấp vi phạm các hạn chế này, giao dịch thế chấp có nguy cơ bị tuyên vô hiệu.
Để đảm bảo an toàn pháp lý cho giao dịch vay vốn bằng tài sản là cổ phần, bên nhận thế chấp cần rà soát kỹ năng lực tài chính của doanh nghiệp và các điều khoản trong Điều lệ công ty, đồng thời đảm bảo sự đồng thuận của các cơ quan có thẩm quyền trong nội bộ công ty (nếu có) để tránh rủi ro tranh chấp phát sinh.