Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.

Báo cáo tài chính (BCTC) đóng vai trò là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính quan trọng của một đơn vị kế toán. Các số liệu này được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, giúp phản ánh trung thực tình hình sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Kế toán năm 2015, Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài kiểm của đơn vị kế toán được trình bày theo các biểu mẫu quy định tại chuẩn mực và chế độ kế toán. Các loại hình doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam đều có nghĩa vụ lập và nộp báo cáo tài chính một cách trung thực, chính xác và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán và thống kê.
BCTC không chỉ là công cụ quản lý nội bộ mà còn là nguồn thông tin thiết yếu cho các bên liên quan. Ý nghĩa của BCTC được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Căn cứ theo quy định tại Điều 100 Thông tư số 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp, hệ thống BCTC của doanh nghiệp được chia thành các loại chính sau:
Đây là báo cáo đầy đủ nhất về tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểm kết thúc năm tài chính. Theo quy định tại Thông tư 200/2ảng/TT-BTC, bộ BCTC năm đầy đủ bao gồm:
Kỳ kế toán năm có thể là năm dương lịch hoặc 12 tháng liên tục. Lưu ý, khi doanh nghiệp thay đổi kỳ kế toán, cần phải lập riêng báo cáo cho giai đoạn chuyển tiếp giữa hai kỳ kế toán cũ và mới.
Ngoài BCTC, doanh nghiệp còn phải thực hiện các nghĩa vụ về quyết toán thuế như: Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (mẫu 05/QTT-TNCN) và Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (mẫu 03/TNDN) kèm theo các phụ lục liên quan (như phụ lục chuyển lỗ, phụ lục giao dịch liên kết...).
Báo cáo tài chính giữa niên độ bao gồm báo cáo quý và báo cáo bán niên. Tùy vào loại hình doanh nghiệp mà yêu cầu về tính chất của báo cáo sẽ khác nhau:
Báo cáo giữa niên độ có thể lập dưới dạng đầy đủ hoặc tóm lược theo mẫu quy định tại Thông tư 200/2014/TT-BTC (ví dụ: Bảng cân đối kế toán giữa niên độ mẫu B 01a – DN cho dạng đầy đủ hoặc B 01b – DN cho dạng tóm lược).
Đối với mô hình nhóm công ty, việc lập báo cáo tài chính có sự khác biệt giữa công ty mẹ và công ty con:
Cần lưu ý rằng, trong trường hợp có sự khác biệt giữa Luật Doanh nghiệp và pháp luật kế toán về tiêu chí xác định quyền kiểm soát (ví dụ: dựa trên tỷ lệ sở hữu vốn so với tỷ lệ quyền biểu quyết), thì các quy định của pháp luật chuyên ngành về kế toán sẽ được ưu tiên áp dụng để lập báo cáo tài chính. Việc nắm vững các nguyên tắc này giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn các tài sản cố định trong doanh nghiệp và các nguồn lực khác một cách minh bạch.