Đối với tranh chấp liên quan đến giao dịch về quyền sử dụng đất như: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai là vấn đề quan trọng mà người sử dụng đất cần nắm rõ trước khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi. Đối với các tranh chấp liên quan đến giao dịch về quyền sử dụng đất như hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất, việc xác định còn hay hết thời hiệu khởi kiện ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện của đương sự.
Theo Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Trong đó, thời hạn là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác theo khoản 1 Điều 144 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Theo Điều 154 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với tranh chấp đất đai, cần phân biệt theo bản chất của quan hệ tranh chấp:
Đối với tranh chấp đất đai (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất), thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất là điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện theo quy định của Luật Đất đai. Trường hợp tài liệu chứng minh việc tranh chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cấp sai, người dân nên thực hiện thủ tục khởi kiện quyết định hành chính về việc cấp giấy chứng nhận trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai.
Để xác định thời hiệu phải xác định được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời điểm mốc. Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Thời điểm mốc thông thường là ngày xảy ra sự kiện pháp lý (vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày người để lại di sản chết...). Có những trường hợp thời hiệu chỉ có thời điểm bắt đầu mà không có thời điểm kết thúc, như đòi lại tài sản là nhà đất.
Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì:
Ngoài ra, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.