Có được hủy hợp đồng mua bán đất đã công chứng hay không? Pháp luật quy định cụ thể như thế nào? Hãy theo dõi bài viết dưới đây

Trong các giao dịch bất động sản, việc ký kết và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bước quan trọng nhất để xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Tuy nhiên, trong thực tế, phát sinh nhiều tình huống ngoài ý muốn khiến các bên mong muốn chấm dứt giao dịch đã được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng. Câu hỏi đặt ra là liệu pháp lý có cho phép hủy bỏ một hợp đồng mua bán đất sau khi đã hoàn tất thủ tục công chứng hay không?
Hủy hợp đồng mua bán đất đã công chứng thực chất là việc các bên tham gia giao dịch thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hiệu lực của văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Công chứng viên ký và đóng dấu. Việc hủy bỏ này có thể dựa trên sự tự nguyện thống nhất giữa các bên hoặc do có những sai phạm về mặt pháp lý dẫn đến hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu.
Cần phân biệt rõ giữa việc "hủy bỏ theo thỏa thuận" (các bên cùng đồng ý chấm dứt) và "vô hiệu hợp đồng". Trong trường hợp đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự không đảm bảo tính tự nguyện hoặc vi phạm điều cấm, hợp đồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, dẫn đến hậu quả pháp lý khác với việc hủy bỏ theo thỏa thuận.
Để một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có giá trị pháp lý và không bị tranh chấp, cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định của Luật Đất đai 2013 và Bộ luật Dân sự 2015:
Theo quy định tại Luật Công chứng 2014, văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được Công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Hợp đồng đã công chứng có giá trị chứng cứ; các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng không phải chứng minh trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Việc hủy bỏ hợp đồng đã công chứng được thực hiện dựa trên hai căn cứ chính: sự thỏa thuận của các bên và sự can thiệp của cơ quan nhà nước.
Căn cứ theo Điều 51 Luật Công chứng 2014 về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch, pháp luật cho phép thực hiện việc hủy bỏ nếu đáp ứng các điều kiện sau:
Trong trường hợp hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực (như giả tạo, lừa dối, hoặc vi phạm quy định về đất đai), một bên hoặc các bên liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Khi đó, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Lưu ý rằng nếu việc chuyển nhượng đất vi phạm các quy định về quản lý đất đai, các bên có thể đối mặt với các chế tài theo Nghị định số 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Để việc hủy bỏ hợp đồng được pháp luật công nhận và có giá trị thi hành, các bên cần thực hiện theo quy trình sau:
Việc tự ý hủy bỏ hợp đồng mà không tuân thủ đúng trình tự pháp luật hoặc không có sự đồng thuận của bên còn lại có thể dẫn đến các tranh chấp dân sự phức tạp, thậm chí là các vụ kiện tụng về bồi thường thiệt hại.