chứng cứ chứng minh trong tố tụng dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp tại Tòa án, việc xác định các tình tiết khách quan của vụ án đóng vai trò quyết định đến tính công minh của phán quyết. Một trong những yếu tố then chốt để thực hiện điều này chính là hệ thống chứng cứ. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết về khái niệm, nguồn gốc và quy trình giao nộp, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Chứng cứ trong các vụ việc dân sự không chỉ đơn thuần là các tài liệu lưu trữ, mà phải là những tình tiết có thật được đương sự hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng. Ngoài ra, chứng cứ còn bao gồm các tài liệu, vật chứng do Tòa án tự mình thu thập theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Mục đích của việc sử dụng chứng cứ là để làm căn cứ cho Tòa án xác định các tình tiết khách quan của vụ án, từ đó đánh giá tính hợp pháp và có căn cứ của các yêu cầu hoặc sự phản đối từ phía các đương sự. Việc hiểu rõ về Bộ luật Tố tụng dân sự của Quốc hội, số 92/2015/QH13 sẽ giúp các bên nắm vững quyền lợi khi tham gia tố tụng.
Chứng cứ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nhưng không giới hạn ở các danh mục sau:
Để một tài liệu được coi là chứng cứ hợp lệ, cần đáp ứng các điều kiện về hình thức và tính pháp lý:
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy nhiên, cần lưu ý các nguyên tắc sau:
Pháp luật cho phép cả đương sự và Tòa án đều có quyền chủ động trong việc tìm kiếm chứng cứ:
Các bên có quyền tự mình thực hiện các biện pháp như: thu thập vật chứng, tài liệu điện tử; xác định và lấy xác nhận của người làm chứng; yêu cầu cơ quan lưu giữ cung cấp bản sao tài liệu liên quan; hoặc yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập các chứng cứ mà đương sự không thể tự thực hiện được.
Tòa án có thẩm quyền tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để làm sáng tỏ vụ án, bao gồm: lấy lời khai đương sự; đối chất; trưng cầu giám định; định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập chứng cứ và xác minh sự vắng mặt của đương sự. Khi thực hiện các biện pháp như giám định hay thẩm định tại chỗ, Tòa án phải ra quyết định bằng văn bản, nêu rõ lý do và yêu cầu.
Đáng chú ý, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, vai trò của các cơ quan chức năng được tăng cường để đảm bảo tính chính xác. Việc thu thập chứng cứ không đúng quy trình có thể dẫn đến việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của những quy định về người thứ ba ngay tình trong Bộ luật dân sự và các bên liên quan khác. Sau khi thu thập được chứng cứ, Tòa án có trách nhiệm thông báo cho đương sự trong vòng 03 ngày làm việc để đảm bảo quyền lợi của họ.